LỜI GIỚI THIỆU

Trước khi biên soạn để tìm hiểu về “Lịch sử và gia phả Họ Khiếu”, tôi xin có một số ý kiến để mọi người trong họ cũng như những ai đã quan tâm đến dòng họ mình được biết.

Họ Khiếu ta có từ thế kỷ thứ XVI, cách nay trên 400 năm (Nhâm Thìn 1592 – Canh Thìn 2000), song Họ Khiếu ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt giữa nhà Mạc (Mạc Mậu Hợp) với nhà Lê trực tiếp là Trịnh Tùng.

 Từ năm Nhâm Thìn 1592 trở về trước chưa có họ Khiếu, tên họ tổ tiên trước kia là họ gì ở đâu thì đến nay con cháu vẫn chưa rõ được. Chỉ biết người sáng lập ra dòng họ Khiếu (Từ năm Nhâm Thìn 1592) là cụ Tổ Khiếu Đình Tuân quê ở thôn Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, đạo Sơn Nam, lúc đó chưa có tỉnh Thái Bình, người làm quan triều Mạc, làm quan văn tới chức Chưởng Hàn Lâm Viện, quan võ tới chức Thống Tướng Phụ Quốc.

Năm Tân Mão 1591, quân Trịnh Tùng bao vây thành Thăng Long, nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy về vùng Hải Dương, tất nhiên gia quyến và triều đình phải chạy theo. Tổ ta cũng trong hoàn cảnh đó nhưng người không chạy theo nhà Mạc mà sau khi thay tên đổi họ đem gởi con cái đi các nơi rồi người dẫn quân chạy lên vùng rừng núi Thái Nguyên. Lúc này mới có họ Khiếu, rồi chiến tranh giữa nhà Mạc và Lê, Trịnh kéo dài nhiều năm, người ra đi không bao giờ trở lại.

Sau 288 năm (1592 – 1880), chi Minh Tào, Thái Nguyên mới gởi về cho chi Phú Lạc một bản phả của chi Minh Tào, cả họ đều mừng vì đây là bút tích đầu tiên kể từ khi có họ Khiếu và cũng là từ khi cụ Tổ Khiếu Đình Tuân từ giã quê hương dẫn quân lên Thái Nguyên.

Qua suy xét thì bản phả này không phải bút tích của cụ Tổ Khiếu Đình Tuân mà của cụ Tổ chi Minh Tào Khiếu Đình Thiếp con trai thứ tư của Tổ biên soạn. Vì thế mà xét một bản phả của dòng họ chính tôn thì còn nhiều phần phải sửa đổi bổ sung để được đầy đủ hơn.

Như tổ tiên đã dạy: “Nhà có gia phả cũng như nước có sử sách” để lại cho đời sau tiếp tục ghi chép thêm vào, nhân cũ mà làm ra mới, cốt sao không để mất gốc, để cho đời sau hiểu rõ được dòng họ mình có từ đâu, các cụ cũng mong con cháu đời đời có ai theo ý chí tổ tiên mình làm tiếp việc ông cha để lại, từ đó mà ghi thêm vào “Lịch sử dòng họ” ngày càng rõ thêm, đầy đủ hơn, hầu thỏa lòng mong ước của Tổ tiên.

Việc tìm hiểu cội nguồn giờ đây có nhiều thuận lợi, được Đảng và Nhà nước khuyến khích, nhiều dòng họ đã và đang làm việc này, ví như dòng họ Lý (Lý Thái Tổ 1010 – 1225) người Cổ Pháp – Từ Sơn – Bắc Ninh cách nay (năm 2000) là 990 năm có con cháu lưu lạc qua Nam Triều Tiên (Đại Hàn), nay họ cũng về nước để họ nhận. Song không có nghĩa là tìm được cội nguồn rồi lại trở về quê xưa.

Dòng Họ Khiếu ta đã có lịch sử trên 400 năm, nếu tính từ 4 vị tiên tổ thì có trên 500 năm ở đất Phú Lạc, mồ mả tiên tổ vẫn còn đó, hàng năm cứ đến đầu xuân 12 tháng 1 và Ngày giỗ Tổ 12 tháng 6 con cháu ở các Chi vẫn rủ nhau về nhà thờ Đại Tôn – Phú Lạc viếng mộ, dâng hương và thăm hỏi nhau.

Khó khăn của dòng họ ta là Tổ ta sinh ra và trưởng thành ở triều Mạc, song triều Mạc trước đây coi như tội nhiều hơn công, bởi vậy các tư liệu về triều Mạc rất ít, điều này có phần hạn chế để tìm hiểu dòng họ ta.

Nay, Vương triều Mạc đã được đánh giá lại, qua cuộc hội thảo ngày 18 tháng 7 năm 1994 được tổ chức tại huyện Kiến Thụy, xưa là huyện Nghi Dương quê hương của Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) kinh đô thứ hai của triều Mạc (1527 – 1592), cuộc hội thảo lịch sử này do Viện Lịch sử học Việt Nam – Hội Khoa học lịch sử - Hội đồng Sử học Hải Phòng – UBND huyện Kiến Thụy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhiều giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học xã hội, các vị quê hương họ Mạc đã về dự, do Giáo sư Trần Khuê chủ trì. Sau cuộc hội thảo này, Giáo sư Trần Khuê và Phó Giáo sư Trần Thị Thanh Xuân – Viện trưởng, viện phó Viện Hán Nôm thành phố Hồ Chí Minh đã lập đề cương “Đánh giá lại vương triều Mạc”.

Ông Khiếu Hữu Diệu chi 5 Đồng Thanh được họ giao làm việc này, ông đã đi đến nhiều chi trong họ, đến nhiều nơi để tìm các tư liệu có liên quan đến họ Khiếu, ông đã đi đến Vạn Linh để tìm mộ tổ, đã gởi thư và bản tường trình dòng Họ Khiếu cho Giáo sư Trần Khuê, Giáo sư Lê Văn Lan để nhờ các giáo sư giúp đỡ tìm nguồn gốc Tổ ta, các giáo sư đã có thư trả lời hứa giúp. Song tiếc rằng ông Diệu tuổi đã cao sức yếu ông đã mất tại Cẩm Phả, Quảng Ninh lúc 3 giờ ngày 11 tháng 3 năm Mậu Dần (tức là ngày 8 tháng 4 năm 1998) thọ 80 tuổi.

Noi theo cha anh, tôi nay tuổi cũng đã cao (sinh năm Tân Dậu 1921) lại ở xa quê hương, sự hiểu biết về nguồn gốc dòng họ có hạn, song tôi cũng cố gắng sưu tầm, nghiên cứu lịch sử, biên soạn phần “Lịch sử và gia phả Họ Khiếu”, còn các tư liệu như Gia phả của họ, của các chi.., tôi vẫn giữ nguyên bút tích của các cụ xưa, chỉ sắp xếp lại thứ tự để dễ xem, dễ bảo quản.

Như vậy, phần biên soạn lịch sử dòng họ cũng chỉ là dự thảo, tôi mong rằng nhân ngày giỗ Tổ có các chi về đầy đủ, xem xét cho ý kiến bổ sung xong sẽ biên soạn lại chính thức được đầy đủ hơn, đó là điều cả họ mong muốn.

 

Kính cẩn!

Cháu 12 đời, Chi 5 Đồng Thanh

 Viết đầu Xuân Tân Tỵ, năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Khiếu Hữu Liệu.

 

 

 

SƠ LƯỢC

LỊCH SỬ DÒNG HỌ KHIẾU

(Nhâm Thìn 1592 – Canh Thìn 2000)

I. NGUYÊN NHÂN SỰ RA ĐỜI CỦA HỌ KHIẾU:

Nguồn gốc là một điều hệ trọng đối với một dân tộc hay đối với một dòng họ, tổ tiên ông cha ta đã có câu: “Uống nước nhớ nguồn”, đó là lời dạy bảo con cháu phải biết, phải ghi nhớ, ai có công dựng nước, ai là người sáng lập ra dòng họ.

Ví như Việt Nam thời dựng nước đó là Vua Hùng Đệ Nhất 2879 – 258 trước công nguyên hay còn gọi là nước Văn Lang của các vua Hùng, vua Hùng là con trai cả của bà Âu Cơ (xem truyện Lạc Long Quân Âu Cơ), đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử, con cháu đời đời vẫn nhớ người đã có công dựng nước, như lời Bác Hồ đã dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”, nhớ đến cội nguồn bây giờ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương cũng như ngày thường con cháu ở khắp mọi miền đất nước vẫn rủ nhau về viếng thăm Đền Hùng và dâng hương tưởng niệm.

Họ Khiếu ta là một dòng họ đặc biệt có từ thế kỉ 16, vào cuối đời nhà Mạc (Nhâm Thìn 1592), Mạc Mục Tông tức là Mạc Mậu Hợp, người sáng lập ra dòng Họ Khiếu là Tổ Khiếu, cụ Tổ Khiếu Đình Tuân quê ở thôn Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, đạo Sơn Nam, lúc đó chưa có tỉnh Thái Bình, người đỗ Trạng nguyên năm Nhâm Thìn 1592, niên hiệu Hồng Minh thứ 2, triều Mạc được phong chức Thống Tướng Phụ Quốc, Chưởng Hàn Lâm Viện (theo Gia phả).

Trong Đại Việt sử ký toàn thư (kỷ nhà Lê) của Ngô Sĩ Liên viết: “Khiếu Đình Tuân quê ở Phương Lai, huyện Vũ Thư, đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn (1592), triều Mạc, Hồng Minh 2. Sau khi đỗ ông được bổ nhậm chức Thống tướng, khi kinh thành thất thủ ông cùng triều Mạc rút lên Thái Nguyên…

Cụ Phạm Văn Thụ (1866-1930), Tuần phủ Thái Bình, tác giả của cuốn địa chí Thái Bình phong vật chí viết về “Cụ trạng Họ Khiếu”, cụ Ngô Đình Thọ dịch vẫn còn lưu giữ ở Thư viện Thái Bình. Cụ Lê Quý Đôn thì nói: Họ Khiếu trước kia là họ Phạm ở Hải Dương qua chứ không phải ở Hải Hậu, Nam Định qua, nhưng Cụ lại không nói rõ qua từ thời nào, vì sao lại phải di dời gia đình họ Phạm từ Hải Dương qua đạo Sơn Nam? Thời gian này cách nay khoảng 540 năm (1460 – 2000) đất nước còn thanh bình yên ổn.

Căn cứ vào một số tư liệu lịch sử như “Các triều đại Việt Nam, từ Việt Nam quốc hiệu đến Pháp thuộc, cũng như trong gia phả Họ Khiếu thì tổ tiên ta đã có ở thôn Phú Lạc và sinh con cháu dòng họ (cho rằng lúc đó là họ Phạm) từ đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), cụ thể:

- Cao tổ khảo tự Đình Thái (trước 5 đời của họ Khiếu sinh 2 trai Đình Quý, Đình Hòe.

- Tằng tổ khảo tự Đình Quí (ông cố nội của Đình Tuân) sinh 1 trai Đình Lệ - 1 gái Thị Dưỡng.

- Hiển tổ khảo tự Đình Lê (ông nội của Đình Tuân) sinh 3 trai Đình Thành, Đình Triều, Đình Dương.

- Hiển khảo tự Đình Thành (thân sinh của Đình Tuân) sinh 1 trai Đình Tuân, 2 gái Thị Nhị - Thị Hoa.

Cứ ước tính mỗi đời 30 năm x 4 thì đã có 130 năm thì ở vào thời nhà Lê 67 năm, vào thời nhà Mạc 66 năm. Đình Tuân là con cả và cũng là con trai độc nhất của cụ Đình Thành đời thứ tư của các vị Tiên Tổ cháu 5 đời của vị Tiên Tổ

Bởi vậy nguồn gốc họ Khiếu có hai giai đoạn:

- Giai đoạn khi chưa có họ Khiếu mà là họ Phạm, từ năm Tân Mão (1591), đời Mạc Mậu Hợp trở về đến đời Cao tổ khảo Đình Thái (đời vua Lê Thánh Tông) khoảng 130 năm.

- Giai đoạn từ khi có Họ Khiếu (Nhâm Thìn 1592 đến Canh Thìn 2000) trên 400 năm và mãi mãi về sau này vẫn là Họ Khiếu.

Việc thay đổi tên họ là một việc bất đắc dĩ phải làm, đó là do hoàn cảnh chiến tranh mà Tổ ta phải đề phòng sự trả đũa của nhà Lê - Trịnh. Nhưng con cháu từ 5 đời dòng dõi của tổ tiên đến bây giờ vẫn cùng chung một dòng máu, dòng máu của họ Khiếu ở thôn Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, đạo Sơn Nam, nay là huyện Vũ Thư (Vũ Tiên – Thư Trì hợp lại), tỉnh Thái Bình. Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng giêng, ngày tế xuân và ngày 12 tháng 6 ngày giỗ Tổ, còn cháu ở các chi: Phú Lạc – Xuân Lôi – Nhân Thanh – Đồng Thanh – Ô Mễ thuộc huyện Vũ Tiên cũ và các chi ở tỉnh khác như: Trực Mỹ, Nam Định; Đại Điền, Thanh Hóa; Nam Đàn, Nghệ An; Minh Tào, Thái Nguyên vẫn rủ nhau về Phú Lạc đi thăm 4 ngôi mộ tiên tổ (mộ đắp đất cao to), dâng hương tưởng niệm, bước vào nhà thờ đại tôn, nhìn thấy tấm bia đá ở bàn thờ chính có chữ “Khiếu Trạng Nguyên Từ” là như thấy Tổ còn đó. Nơi đây là nguồn gốc dòng Họ Khiếu có cách nay trên 5 thế kỷ.

* Chú thêm:

  • Trong Gia phả nói Người thay tên đổi họ đem gởi con cái đi các nơi rồi Người mới dẫn quân chạy lên Thái Nguyên. Nhưng cũng có ý nói là Người thay đổi tên họ trước khi vào thi Trạng, vì thi xong thì kinh thành thất thủ không kịp yết danh thì còn thì giờ đâu mà trở về lo cho gia đình.
  • Tại sao Người lấy chữ Khiếu để đặt cho tên họ? Khi quân Trịnh kéo ra Yên Mô, Ninh Bình lúc đó triều đình đã rối loạn, là một vị quan đại thần sao khỏi lo lắng suy tính, ban đêm ngồi nhìn thẳng lên bầu trời. Có sao bắc đẩu soi sáng, người lấy chữ đẩu, nghĩ đến loạn lạc tiếng kêu khóc của muôn dân người lấy chữ khẩu có nghĩa là miệng hai chữ này ghép lại thành chữ “Khiếu” nghĩa là “gọi” đặt tên họ.
  • Dòng Họ Khiếu có câu chuyện “bạt bạt trạng” tức là vào thi nhưng được công nhận đỗ mà không phải làm bài thi gọi là “bạt” sẽ nói ở phần thân thể và sự nghiệp của tổ.

II. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TỔ KHIẾU ĐÌNH TUÂN

Tổ ta sinh ra khoảng năm Ất Dậu 1535 đời Mạc Đăng Doanh (Canh Dần 1530 – Canh Tý 1540), Mạc Đăng Doanh là ngôi vua thứ hai triều Mạc, ở ngôi được10 năm. Tổ ta trưởng thành ở triều Mạc, song trước đây nhà Mạc bị coi là ngọa triều, tội nhiều hơn công, vì thế những di tích của triều Mạc không còn mấy, Tổ ta là một vị quan đại thần ở triều đại này, sao tránh khỏi sự ảnh hưởng, do đó trong quá trình trưởng thành trên bước đường công danh của người có nhiều uẩn khúc. Nghĩ đến cuộc đời của Tổ ta con cháu dòng họ ta sao khỏi xúc động.

Sơ lược qua một số nét chính về vương triều Mạc có liên quan đến tổ tiên dòng họ ta để chúng ta biết thời sinh trưởng của người. Triều Mạc có 5 ngôi vua, từ Mạc Thái Tổ tức là Mạc Đăng Dung (Đinh Hợi 1527 – Kỷ Sửu 1529), đến đời Mạc Mục Tông tức là Mạc Mậu Hợp (Nhâm Tuất 1562 – Nhâm Thìn 1592) là cháu 4 đời của Mạc Thái Tổ, Mậu Hợp là ngôi vua thứ 5 cũng là ngôi vua cuối cùng của triều Mạc, 5 ngôi vua của triều đại này ở ngôi được 66 năm (Đinh Hợi 1527 – Nhâm Thìn 1592), tổ ta sinh ra và trưởng thành 57 năm ở 4 ngôi vua, làm quan ở triều này khoảng 17 năm kể từ khi người đỗ tiến sĩ năm 1575 lúc này người khoảng 40 tuổi.

Năm ngôi vua thì chỉ có 3 ngôi vua đầu là: Mạc Thái Tổ - Mạc Đăng Doanh – Mạc Phúc Hải là thịnh vượng, đất nước thanh bình, kinh tế được phát triển, đời sống nhân dân được ổn định… Song ở ngôi quá ít, được 19 năm (Đăng Dung 3 năm – Đăng Doanh 10 năm – Phúc Hải 6 năm) còn 2 ngôi sau ở ngôi tới 49 năm (Phúc Nguyên 19 năm – Mậu Hợp 30 năm), đến cuối đời Mạc Phúc Hải đã bắt đầu sa sút, vua lo ăn chơi (ca xướng, chọn gà) không quan tâm đến triều chính, trong lúc đó ở biên giới phía bắc nhà Minh hăm he xâm chiếm, ở phía nam quân nhà Lê (Lê Trung Tông) sau khi đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hóa đã kéo quân ra đến Yên Mô, Ninh Bình, Nguyễn Kim bị thuốc độc chết, quyền hành về tay Trịnh Kiểm con rể Nguyễn Kim nắm giữ, lực lượng nhà Lê được củng cố vững mạnh. Lúc này ở đạo Sơn Nam cũng bị chiến tranh đe dọa Đình Tuân khoảng 5 – 7 tuổi.

Đến đời Mạc Phúc Nguyên (con trưởng Mạc Phúc Hải) ngôi vua thứ tư của triều Mạc (Bính Ngọ 1546 – Quý Hợi 1561), nội bộ triều đình lục đục, quân thần khuyên Phúc Nguyên: “Vua đã trưởng thành phải tự mình đảm nhận việc triều chính” nhưng mải ăn chơi, học hành kém, không đủ sức điều hành việc nước, phải nhờ Lê Bá Lý đảm nhận nhiều trọng trách của triều đình, càng mâu thuẫn thêm, cha con Phạm Quỳnh – Phạm Giao ganh tỵ, vua lại thường nghe lời của Phạm Quỳnh, Lê Bá Lý trở nên bất mãn với triều đình, bèn dẫn 1 vạn 4000 quân chạy vào Thanh Hóa hàng vua Lê còn kéo theo một số tướng sĩ trong đó có Nguyễn Thiến làm Bộ lại thượng thư, thông gia với Lê Bá Lý cùng đi theo. Thanh thế nhà Lê trở nên mạnh, Mạc Phúc Nguyên lo sợ giao quyền cho chú là Mạc Kính Điển rồi trở về xứ miền đông điền viên, quân Lê - Trịnh lại chuẩn bị đánh ra Bắc, lúc này Tổ ta khoảng 20 tuổi.

Tháng 7, năm Bính Tý quân hai bên lại đánh nhau, nhà Mạc Phúc Nguyên sai Mạc Kính Điển đem quân đánh Thanh Hóa, Phạm Quỳnh, Phạm Giao đánh Nghệ An đều bị nhà Lê đánh thua, Mạc Kính Điển phải nhảy xuống sông nhịn đói 3 ngày nhờ ngư dân cứu, thừa thắng nhà Lê lại huy động 5 vạn quân đánh ra Sơn Nam nhưng lại bị quân Mạc đánh thua, quân Lê rút chạy lại bị quân Mạc chặn đường về tiêu diệt gần phân nửa. Lúc này ở miền Bắc nói chung đạo Sơn Nam là địa đầu khi quân Lê - Trịnh đánh ra, dân chúng rất lo sợ.

Tháng 12 Tân Dậu (1561), chiến tranh giữa 2 miền đã gay gắt thì Mạc Phúc Nguyên bị bệnh đầu mùa chết, ở ngôi được 19 năm, lúc này Tổ ta 26 tuổi (1535 – 1561) người ra ứng thi hương và đỗ cử nhân khoa này. Triều đình ra lệnh cho các vị đã đỗ cử vào thi hội (thi hội để lấy tiến sĩ); nhưng người không ra ứng thí mà ở nhà mở trường dạy học, tin đồn là người học giỏi nên ở nhiều nơi đến xin học, dấu vết cách đây ít lâu vẫn còn, trước năm 1945 ở đường vào thôn Phú Lạc vẫn còn một số cây ruối rất to có từ lâu đời thường gọi là cây cổ thủ, các cụ bố lão nói đó là cọc buộc ngựa của các sĩ phu về thọ giáo quan trạng đã lâu đời nay trở thành cây cổ thụ đó, có lẽ dần dần về sau dân đốn đi để làm củi.

Sau 14 năm (1561 – 1575) lại có một điều rất uẩn khúc là từ khi Đình Tuân sinh ra năm 1535 đến Canh Thìn (1575) suốt 40 năm ấy kể cả trong các khoa thi chưa thấy có tên Đình Tuân xuất hiện các khoa thi hội, cụ Phạm Tuấn đỗ trạng, cụ Đỗ Uông đỗ bảng nhãn, cụ Nguyễn Nghiêm Tú đỗ thám hoa (đều không rõ quê quán). Năm Canh Thìn (1576) lại có khoa thi hội, có lẽ lúc này Người mới ra ứng thí (Người đã 41 tuổi), sau khi đỗ khóa này người được bổ nhiệm làm quan triều Mạc từ đó, nói như vậy có ý đúng hơn, sau gần 15 năm làm quan, khoảng lúc trên 55 tuổi người mới vào thi đình và đỗ trạng. Lúc nảy vẫn chưa có họ Khiếu và cái tên Đình Tuân vẫn chưa thấy xuất hiện ở hàng quan lại triều đình. Ta xem một số các vị đã đỗ cao ở thời nhà Mạc:

1. Trong danh sách các vị trạng nguyên toàn quốc của Phạm Huy Chú viết trong “Lịch triều hiến chương loại chí”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản tháng 3 năm 1992, triều Mạc có 11 vị :

- Đời Mạc Đăng Dung (1528), có một vị người Hà Bắc.

- Đời Mạc Đăng Doanh (1532 – 1538), có 03 vị người Hà Bắc, Hà Tây và Hải Phòng.

- Đời Mạc Phú Hải (1544), có 01 vị người Hải Dương.

- Đời Mạc Phúc Nguyên (1547 – 1562) có 02 vị người Hải Phòng.

- Đời Mạc Mậu Hợp (1567), có 01 vị người Bắc Ninh.

2. Tiến sĩ, có 21 khoa thi hội và 2 chế xuất khoa tuyển được.

- 42 tiến sĩ cấp đệ.

- 107 tiến sĩ xuất thân.

- 330 đồng tiến sĩ xuất thân.

- 7 đệ nhất giáp chế khoa xuất thân.

- 08 đồng giáp chế khoa xuất thân.

Đời Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592), lúc này Đình Tuân 26 tuổi, vẫn chưa có họ Khiếu, có các vị đỗ:

Đời Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592), lúc này Đình Tuân 26 tuổi, vẫn chưa có họ Khiếu, có các vị đỗ

 

 

Trong 111 vị đại khoa của tỉnh Thái Bình:

Trong 111 vị đại khoa của tỉnh Thái Bình

 

          Chắc chắn là trong các vị đỗ trên có nhiều vị làm quan to ở triều Mạc, nhưng ít người có tên trong hàng quan lại của triều đình, các khoa thi này khi kinh thành chưa thất thủ, vậy sao các cụ lại ẩn danh? Điều này ta phải suy xét và chắc chắn là Đình Tuân cũng trong hoàn cảnh này, chắc chắn là vị trạng nguyên người sáng lập ra dòng họ Khiếu có một ẩn danh khác?

Khi kinh thành thất thủ, triều đình nhà Mạc và gia quyến chạy về vùng Hải Dương, lúc này quân Trịnh Tùng mạnh nhờ có Bùi Văn Khuê tướng thủy quân nhà Mạc vào hàng, Trịnh Tùng mở đợt tấn công bằng đường thủy vào vùng Kinh Dương của nhà Mạc. Ngày 25 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng huy động đến 300 chiếc thuyền, Mạc Mậu Hợp phải bỏ chạy, bỏ cả thái hậu và gia quyến, thái hậu bị bắt phải về Thăng Long tới sông Bồ Đề nhảy xuống sông tự vẫn. Mạc Hậu Hợp giao quyền cho con là Toàn lên làm vua rồi chạy qua Phương Nhãn, Bắc Ninh sau 10 ngày bị quân Trịnh bắt, quân Trịnh thừa thắng phá tan quân của Mạc Kính Chi ở Tân Mỹ thuộc Thanh Hà, các tướng sĩ lớp ra hàng nhà Lê, lớp bị bắt, nhưng đều không có tên họ mà chỉ có tước.

Trong “Đại Việt sử ký toàn thư” cũng có nói đến một số tướng quân nhà Mạc bị quân Trịnh Tùng bắt trong đó có cụ Đỗ Diễn, Phạm Hữu Năng đều bị đem về Thảo Tân hành hình, nhưng xét trong số các cụ thi đỗ từ đời Mạc Phúc Nguyên đến đời Mạc Mậu Hợp thấy không có người này. Lúc này thì đã có họ Khiếu và cái tên Khiếu Đình Tuân vị trạng nguyên sáng lập ra dòng họ Khiếu đã dẫn quân chạy lên vùng rừng núi Thái Nguyên, Chi Lăng, Lạng Sơn.

Đến đời Mạc Mục Tông (Mạc Mậu Hợp là ngôi vua thứ 5 triều Mạc, cũng là ngôi vua cuối cùng ở triều này (Nhâm Tuất 1562 – 1592) ở ngôi lâu nhất 5 ngôi vua, 30 năm. Mậu Hợp lên ngôi lúc 2 tuổi phải lấy Mạc Đôn Nhượng (con Mạc Đăng Doanh) làm phụ chính.

Năm Quý Dậu 1572 ở nam triều Trịnh Kiểm chết, quyền hành lọt vào tay Trịnh Tùng, vua Lê và Trịnh Tùng chung sống hòa hợp, trong khi đó ở Bắc triều, Mạc Mậu Hợp năm 16 tuổi đã lấy vợ lao vào ăn chơi, không lo việc triều chính, năm 17 tuổi bị sét đánh tưởng chết, năm 18 tuổi bị thông manh may chữa khỏi lại lo ăn chơi, làm nhiều thất sách. Năm 1562 ngờ Thái bảo Văn Quốc công Phạm Giao có lòng khác đem giết. Năm Canh Dần 1590 giết vợ Mạc Kính Chỉ vì không chịu kén chồng xin trốn ở nhà Hoàng Quân Công là một viên tướng của triều đình, thấy Nguyễn Thị Niên con gái của Nguyễn Quyến vợ Bùi Văn Khuê trấn thủ đạo Nam Sơn, Mậu Hợp âm mưu giết Bùi Văn Khuê để cướp vợ, vợ Khuê mật báo cho chồng. Khuê đem quân về giữ Gia Viễn chống lại nhà Mạc, Mậu Hợp cho quân đến hỏi tội, Khuê một mặt đem quân chống giữ, mặt khác cho con là Bùi Văn Nguyên ra hàng Trịnh và xin quân cứu viện. Thế là thủy quân mạnh nhất của nhà Mạc do Khuê nắm giữ đã lọt vào nhà Lê. Đang thiếu lực lượng hải quân nay có Bùi Văn Khuê giúp sức, Trịnh Tùng mở một loạt tấn công bằng đường thủy xuống vùng Kinh Dương của nhà Mạc.

Người vào thi hội đỗ (thi hội là lấy tiến sĩ) và làm quan trong triều gần 17 năm qua (1575 – 1592) nhưng chưa thấy xuất hiện danh tánh (lúc này chưa có họ Khiếu) nhưng theo các cụ kể lại cũng cần phải lưu ý:

- Vào thi hội nhưng lại không phải thi vì xem xét trước khi vào đề, quan trường có thể cho miễn thi, đó gọi là “bạt”.

- Trong lúc này, năm Tân Mão 1591, Ngô Sĩ Liên viết trong “Đại Việt sử ký toàn thư” (trang 4 – kỷ nhà Lê) từ mùa đông năm này, Trịnh Tùng huy động 3 vạn quân có voi trợ chiến đánh vào phụ cận Thăng Long, trận đánh kéo dài đến khi nhà Mạc phải rút khỏi Thăng Long.

- Có thể Người đã chuẩn bị thay tên đổi họ và gởi con đi các nơi, từ khi quân Trịnh đánh ra Sơn Nam, vì giai đoạn này khi Thăng Long thất thủ, Người có thì giờ đâu nữa mà lo cho việc gia đình.

Bây giờ lại vấn đề thi cử, trong gia phả cũng như trong một số tư liệu khác nói: năm Nhâm Thìn 1592 niên hiệu Hồng Minh thứ hai triều Mạc, cũng có khoa thi, lấy đỗ tiến sĩ 17 người (đây là khoa thi đình, thi ở cung đình để phân loại tiến sĩ) nhưng thi xong thì kinh thành thất thủ nên không kịp yết danh, vì vậy 16 tiến sĩ không biết họ tên quê quán, chỉ biết có Đình Nguyên Hoàng Giáp (người đỗ đầu là Phạm Hữu Năng quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương đỗ trạng. Trong gia phả, trong “Đại Việt sử ký toàn thư” cũng có nói đến Đình Tuân đỗ trong khoa này, vậy tên của Người có trong danh sách 16 tiến sĩ đó không?

Cũng có ý nói Đình Tuân và Hữu Năng là một, điều này cần xem xét kỹ lại. Như trong Đại việt sử ký toàn thư – Kỷ nhà Lê – quyển XVII trang 196 nói: năm Quý Tỵ 1593 (lúc này Thăng Long đã thất thủ) tháng 1 ngày 19 tiết chế Trịnh Tùng đốc đại quân vượt sông Nhị sang phía đông, ngày đi đêm nghỉ cứ thẳng Thanh Lâm mà tiến, đến Cẩm Giàng tạm dừng họp các tướng sĩ chuẩn bị tấn công cả đường bộ, đường thủy, bao vây 4 mặt, tàn quân tướng sĩ nhà Mạc lớp bị bắt, lớp bị giết vô kể (đều không rõ tên) chỉ biết có một số: Trần Khánh Khê – Nguyễn Tránh – Phạm Điền Tuấn – Vũ Sâm – Phạm Công Mệnh – Lê Kim Bảng – Hoàng Văn Bản… trong đó có Đỗ Diễn là bạn thân của Đình Tuân trấn thủ xứ An Bang (Quảng Yên), có lẽ khi Đình Tuân và Đỗ Diễn gặp nhau bàn việc thì tổ ta ở lại Thái Nguyên với một vạn quân, còn cụ Đỗ Diễn thì dẫn quân trở lại Sơn Nam trên đường đi bị quân nhà Lê bắt, cụ Đỗ Diễn quê ở Hưng Hà, Thái Bình.

Phạm Hữu Năng cũng bị bắt chung với Đỗ Diễn và nhiều tướng sĩ khác, Trịnh Tùng cho giải về Thảo Tân rồi hành hình.

Trong lúc này thì Đình Tuân đã dẫn quân rút khỏi Thăng Long không chạy về vùng Hải Dương chỗ này có hai ý:

- Một là chạy lên Bắc Ninh đến Phương Nhãn thì bị bắt chung với Mạc Mậu Hợp nhưng nhà Lê thấy người tài giỏi đức độ làm quan triều Mạc chưa lâu nên dụ hàng, người tìm cách trốn rồi chạy lên Thái Nguyên.

- Cũng có ý nói là người dẫn một vạn quân không chống lại nhà Lê - Trịnh mà chạy thẳng lên Thái Nguyên trú quân ở chân núi Tam Đảo giáp Thái Nguyên – Phú Thọ.

Ở chỗ thi đình năm Nhâm Thìn (1592), trước đây người thi hội nhưng không phải thi thì được một “bạt” rồi, nay vào thi đình nhưng cũng không phải thì được công nhận là trạng thêm một “bạt” nữa, thế là hai “bạt bạt trạng”, có lẽ vì thế mà trong danh sách không có tên người.

*     *

*

Bài phú “Hạng Vũ Biệt Ngu Cơ” mà con cháu họ ta trước đây vẫn lưu truyền, xin sao nguyên văn.

PHÚ

Hạng Vũ biệt Ngu Cơ

NGU LẠC HOÀNG XẢ PHƯỢNG CHI TỂ

Nghênh ngang dưới nguyệt

Hớn hở đêm thu

Anh nghe êm ả

Nàng cũng hi vu

Lời chưa dứt lời

Lưỡi ba tấc không xương uốn éo.

- Ngu: Mặt trông tỏ mặt

Mắt trùng đồng có nhẽ tù mù

Mình nghĩ mình lại hổ tâm ru

Nàng càng nức nở, duyên hà thắc mắc.

Ngu hỡi ngu !

- Lạc: Kể anh là dòng dõi trâm anh

Vốn nhà đài các, chỉ cả dụng binh

Sức hay cất vạc

Khi nuốt sao ngưu, sao đẩu

Sức chống can qua

Giận nghiêng sông hán sông hà

Tài mình hẳn khác

Lưỡi gươm thử hồng môn một trận

Phàn khoái kia vực chứa khi nghèo

Bóng cờ bay thu thủy ba vòng

Gái đảm nọ tìm chồng cơn lạc.

- Hoàng: trời đưa gió giúp

Duyên tình cờ lại bắt gặp nàng

Từ thuở ấy phỉ nguyền sánh phượng

Tả lòng xưa xướng khúc cầu hoàng.

- Xả: Quyền lồ lộ ngôi cao hoàng hậu

Nàng cũng mong sánh đức nhuận khương

Chẳng ngờ hùm mạnh sa cơ, ngựa truy vấp ngã

Quân sở ta phải lúc thừa nguy

Ong Bái nọ quyết lòng bắt xả.

- Phượng: Vì gặp phải hiểm nghèo gấp khúc

Nên thua tép chi rồng

Khác nào đỗ chốn cheo leo

Lỡ bước phải theo gà chi phượng.

- Chi: Nghĩ quanh nghĩ quẩn, tính đi tính lại

Tự mình làm quá, cậy sức ra uy

Dẫn mình qua còn đỏ máu chi song

Hỏi ai quên được.

- Tể: Thôi! Thôi!

Vận đã thùy nghi, thời nào tạo tế

Trời đã chẳng cho, người nghe cũng tê

Ngồi trong trận hãm

Vắng tai nghe bốn mặt sở ca

Hỏi có ai không

Trông chỉ thấy 8 người tử đệ

Nàng phải liều mình! Anh đà cũng thế!

Ra tay một trận

Giết Hán quân, khôi phục lại sơn hà

Cư lap ba nghìn dựng nghiệp sở

Lại lên ngôi hoàng đế

Trước đã xưng cái thế anh hung

Sau này tất khách lưu dựa dã dã.

Sau khi người đỗ trạng nguyên thì lúc đó quân nhà Lê - Trịnh đã áp sát khu vực Thăng Long, Mạc Mậu Hợp đã rút khỏi thành, lúc này người đã lo cho gia đình con cái yên ổn, khi rút quân lên Thái Nguyên người chỉ đem theo hai con, con trai thứ tư là cụ Khiếu Đình Thiếp và bà con út là Khiếu Thị Hằng, đến Thái Nguyên người dừng quân ở chân núi Ba Vì giáp ranh Thái Nguyên, Phú Thọ, nơi đây yên không có quân Trịnh đánh lên. Bây giờ là xã Hòa Bình, Tân Cương thuộc huyện Đồng Hỷ vùng chè nổi tiếng của Thái Nguyên vẫn còn một số gia đình họ Khiếu, chắc chắn là chi của cụ Tổ Khiếu Đình Thiếp, nếu ta gặp được dòng họ ở đây thì chắc chắn có nhiều bút tích của tổ Khiếu Đình Tuân. Đường lên đây bây giờ không khó khăn lắm, đi lên Thái Nguyên vào huyện Đồng Hỷ hỏi vào vùng này nhiều người biết.

Một thời gian quân Trịnh tấn công lên một số vùng thuộc tỉnh Thái Nguyên, người vẫn không chống lại, mà dẫn quân chạy qua Vạn Linh, ở đây là một thung lũng khá hiểm trở, rừng núi bao bọc xung quanh, dân cư thưa thớt chủ yếu là người dân tộc, từ ga Đồng Mỏ vào khoảng 20 km nhưng lúc đó đường mòn chưa có đường xe, bấy giờ là châu Vạn Linh, có chùa Vạn Linh không to dân cũng không biết xây dựng từ thời nào (ước đến nay có gần 500 năm) nghe đồn chùa rất linh thiêng nên dân chúng rất tôn kính, trước khi quân Đình Tuân đến thì đã có một đội quân nhà Mạc từ Cao Bằng kéo về đây, có lẽ là Mạc Kính Cung do nhà Minh đưa về, đạo quân này đi đến đâu cũng quấy nhiễu nhân dân rất sợ, nhưng quân của Đình Tuân luật rất nghiêm đóng ở gần rừng gần chùa Vạn Linh, ít khi vào nhà dân, mua gì của dân thanh toán đầy đủ nên dân không lo sợ mà còn giúp đỡ như giữ bí mật canh gác vòng ngoài, cung cấp lương thực muối… vì thế quân có cả vạn người song rất yên tịnh.

Một thời gian thì Người mất tại đây, sự việc này có hai nguồn tin:

- Khi Thăng Long thất thủ Người rút lên Thái Nguyên, mà không chạy theo tàn quân của nhà Mạc, cũng không chống lại quân Trịnh, đến Thái Nguyên cụ có gặp cụ Đỗ Diễn trấn thủ An Bàng bàn đại sự, sau đó cụ Đỗ Diễn dẫn quân về Sơn Nam (cụ Đỗ Diễn người Thái Bình) người ở lại Thái Nguyên không may cụ Đỗ Diễn bị bắt rồi bị hành hình ở Thảo Tân người buồn vào chùa Vạn Linh tu rồi chết ở đó.

- Hai là nhà Mạc sai tên tướng là Khúc Chế Viễn – một tên tướng dưới quyền của Khiếu Đình Tuân – về dụ người lên Cao Bằng, người từ chối (lúc này nhà Mạc còn chiếm giữ một số vùng ở Thái Nguyên, Cao Bằng) do đó bị Khúc Chế Viễn dùng độc dược ám hại.

Nhưng dù nghe cụ Đỗ Diễn bị chết, hay do Khúc Chế Viễn ám hại, thì người cũng yên nghỉ ngàn thu ở đất Vạn Linh này, người mất tuy không có gia đình con cái ở bên song đã có hàng vạn tướng sĩ lo chôn cất người, người thọ 61 tuổi (1535 – 1596).

Nội chiến giữa nhà Lê và tàn quân nhà Mạc còn kéo dài nhiều năm.

III. PHẦN MỘ TỔ

Trong gia phả họ Khiếu có ghi: “Hiện nay ở chùa Vạn Linh thuộc châu Minh Tào, huyện Bình Dương, phủ Phúc Cao vẫn còn khắc chữ: “Trạng Nguyên Khiếu Tướng Công Thọ Sở”, ý nói đây là nơi đóng quân của vị trạng nguyên họ Khiếu. Phả của chi Minh Tào, Thái Nguyên gởi về cho chi Phú Lạc ngày 20 tháng 3 năm Tân Mão 1881 đời Lê Cảnh Hưng thứ 32. Vậy từ khi có Họ Khiếu (hay nói từ khi tổ Khiếu Đình Tuân lên Thái Nguyên) đến khi chi Phú Lạc được bản phả 289 năm, thời gian khá lâu có thể tên một số địa phương đã thay đổi cần phải suy xét thêm.

Ở Thái Nguyên không có chùa Vạn Linh, mộ tổ Khiếu Đình Tuân ở gần chùa Vạn Linh, trước kia là thung lũng Vạn Linh thuộc huyện Chi Lăng, trước kia rừng núi hiểm trở, nay là xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Còn châu Minh Tào, huyện Bình Dương, phủ Phúc Cao, có phải đây thuộc tỉnh Thái Nguyên ngày nay không, có phải nơi đây khi người dẫn quân chạy lên Thái Nguyên tạm dừng ở đây, khi quân Lê - Trịnh tấn công lên một số vùng thuộc Thái Nguyên người cũng không chống lại mà người để hai con là cụ Khiếu Đình Thiếp và cụ bà Khiếu Thị Hằng lại đây rồi người mới dẫn quân qua Vạn Linh, nơi đây ngày nay là Hòa Bình, Tân Cương thuộc huyện Đồng Hỷ (vùng chè ngon nổi tiếng) ngày nay vẫn còn một số gia đình họ Khiếu. Bây giờ đường lên đây cũng dễ đi, không khó khăn tốn kém mấy, nếu ta tìm được chi Minh Tào (chi 4) thì có nhiều bút tích của dòng họ ta (lên Thái Nguyên rồi vào huyện Đồng Hỷ gần, mất 5.000 tiền xe ôm, từ Đồng Hỷ vào Hòa Bình, Tân Cương khoảng 3 km).

Theo báo cáo Nam phong vật chí số - 157, xuất bản năm 1936, do cụ Phạm Văn Thụ, tuần phủ Thái Bình có viết có nói: Vạn Linh là một thung lũng rộng lớn hiểm trở cách huyện Chi Lăng 20 km (báo viết về cụ trạng họ Khiếu vẫn còn lưu giữ ở thư viên Thái Bình).

Năm Canh Ngọ 1990 ông Khiếu Hữu Diệu cháu 12 đời chi Đồng Thanh (chi 5) đã lên Bắc Giang, đến xóm Còng, xã Đông Sơn, huyện Yên Thế tìm gặp gia đình ông Khiếu Hữu Tự ở chi Đồng Thanh lên đây sinh sống gần ba đời (ở gần ga Kép – ông Tự đã chết), một cháu ông Tự đã đưa ông Diệu đi tìm mộ tổ. Đi tàu hỏa đến ga Đồng Mỏ xuống hỏi đường vào Vạn Linh ai cũng biết. Ông Diệu đã vào huyện Chi Lăng trình bày việc đi tìm mộ tổ, huyễn sẵn sàng giúp đỡ đã cử ông Sửu (người Nam Định) là cán bộ địa chất của huyện, có kinh nghiệm đi tìm mồ mả, khảo cổ, ông đã tìm được nhiều mộ, nhiều di tích ở vùng Chi Lăng, ông Sửu cho biết ở Vạn Linh có một ngôi đá khá to của một vị tướng nào không rõ, có thể là ở triều Mạc, dẫn quân lên chốt ở đây rồi uống nhầm thuốc độc dược chết, mộ đá rất to ở gần chùa nhưng lâu ngày không ai chăm sóc nên đã đổ lún.

Ngày 05 tháng Giêng tết năm 1991 ông Sửu có về nhà ông Diệu chơi và cho biết đã tìm được ngôi mộ rồi theo tư liệu lịch sử của địa phương (Chi Lăng – Lạng Sơn) thì chùa đề “Vạn Linh Thiên Tự”, trong chùa có một bia đá khắc “Trạng nguyên Khiếu Tướng Công Thọ Sở Khắc”. Vạn Linh nay nằm ở châu Bằng Mạc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Chú ý: sao lai đặt tên là “Châu Bằng Mạc”.

Đường lên Vạn Linh trước đi khó khăn hiểm trở, nhưng nay đi lại rất thuận tiện, từ Hà Nội đi ô tô hoặc tàu hỏa tới Đồng Mỏ, Chi Lăng hỏi thăm đường vào Vạn Linh hoặc đi xe đò thì đến chợ Vạn Linh, khoảng 20 km đường rải nhựa, đi khoảng 15 km đến đèo Bén, đèo không cao như đèo Hải Vân song cũng hiểm trở, hai bên đường bây giờ dân miền xuôi lên ở, nhà cửa vườn cây trái phì nhiêu, dân miền xuôi với dân miền núi (dân tộc) chung sống hòa hợp, đến đỉnh đèo đổ dốc khoảng ít cây số là đến thung lũng, gọi là thung lũng nhưng là một cánh đồng bằng phẳng có chợ, có trụ sở ủy ban nhân dân xã Vạn Linh xây khang trang, gần đến chợ hết đường nhựa đi vào đường đá, nhà dân cũng có nhà ngói hoặc tôn, một số có điện, ti vi…

Theo các cụ cao niên kể lại, Vạn Linh nằm cách quốc lộ 1 không xa nhưng trước kia muốn vào Vạn Linh phải dò theo đường mòn khó khăn, dân thưa không ở hai bên đường mà ở trong triền chân núi, nơi có suối có nước, sống về nương rẫy, lúc đó có một đạo quân từ miền trên kéo xuống đi đến đâu cũng cướp phá, nhân dân rất sợ bỏ trốn vào sâu, nhưng đạo quân này sau mới biết là cả triều Mạc, rồi họ đi. Còn đạo quân này khá đông nhưng đóng ở ngoài rừng, chân núi gần chùa, không vào nhà dân quậy phá nên nhân dân yên tâm, còn giúp đỡ đạo quân này bảo vệ, bán lương thực thực phẩm.

Cụ không nhớ trú ở đây bao lâu, một thời gian thì có lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập, trong quân ngũ thấy buồn rầu, mấy ngày sau có đám ma lớn, rồi dần dần đạo quân này tản đi, để lại một ngôi mộ đá rất to, sau đã có người đến đào mục đích tìm của, nhưng đá to quá nặng phải bỏ, lâu ngày không được tu sửa nên đã suy sụp, đạo quân này cũng có một số ít xin ở lại sinh sống lập nghiệp ở đây, nhân dân mới biết là một vị tướng họ Khiếu của triều Mạc.

Xin nói thêm là chùa Vạn Linh không biết xây dựng từ thời nào, ai xây, vì sao xây ở nơi sơn lâm hiểm trở, ước đoán thì có thể xây vào đời nhà Lê, từ khi vị tướng nhà Mạc chết ở đây trong chùa có dựng bia đề “Trạng Nguyên Khiếu Tướng Công Thọ Sở”, chùa và mộ rất linh thiêng nên dân trong vùng rất tôn kính, từ khi nhân dân ở vùng Vạn Linh đông đúc, đời sống khá hơn, nhân dân vẫn vào chùa hương khói.

Qua các di tích của chùa Vạn Linh, các dấu, các vết ở chùa, ở trên đường vào và tư liệu lịch sử của địa phương mà ông Sửu cho biết, nhân dân kể lại thì chắc chắn đây là mộ tổ Khiếu Đình Tuân rồi, con cháu ở các chi cố tổ chức lên đây để xác minh đầy đủ hơn, khi nhận được mộ tổ rồi thì phải tu sửa lại như xưa, riêng chùa Vạn Linh có liên quan đến tổ tiên ta dòng họ ta, đây là một di tích lịch sử của triều Mạc ở Chi Lăng, cũng bàn bạc với địa phương để tu bổ lại, để sau này hàng năm con cháu lên viếng mộ tổ, có nơi tạm trú để vãn cảnh núi rừng. Tôi tin rằng con cháu ta sẽ làm được, đời này không làm được thì đời sau phải làm cho được đó là điều mong muốn của dòng họ.

Nếu ta tìm được mộ tổ rồi, họ tự tu sửa mộ, còn phân tu bổ chùa thì bàn với địa phương, tôi tin chắc rằng địa phương sẽ bằng lòng vì đây là di tích của họ Khiếu song cũng là khu di tích của địa phương, nhân dân ở vùng này cũng sẽ vui lòng giúp đỡ chăm sóc mộ và chùa.

IV. PHẦN GIA QUYẾN

Phần này trong gia phả họ Khiếu đã nói rất đầy đủ, dựa theo bản phả của chi Minh Tào, Thái Nguyên (chi 4) có đối chiếu với bản phả của chi Đại Điền, Thanh Hóa đã khớp nhau, sau đó lại được hai cụ Khiếu Hữu Tín chi Đồng Thanh và cụ Khiếu Như Tòng (Phạm Như Tòng) chi An Lão sắp xếp lại, song do hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ (1945 – 1975) phả phải cất giấu dưới hầm bí mật lâu ngày một số trang đã bị mục nát, song cũng còn may, các phần chính của phả còn như: danh sách các vị tổ tiên và gia quyến, các cụ tổ ở các chi: Phú Lạc, Xuân Lôi, Nhân Thanh, Đồng Thanh, Ô Mễ, An Lão (thuộc huyện Vũ Tiên,Thái Bình), ở các tỉnh khác như: Trực Mỹ, Nam Định; Đại Điền, Thanh Hóa; Minh Tào, Thái Nguyên; Nam Đàn, Nghệ An (nghe nói chi Nam Đàn đã đổi lại là họ Phạm có không?), tên hèm và các ngày giỗ, mồ mả…

Họ đã giao cho cụ Khiếu Hữu Huy cháu 11 đời ở chi Đồng Thanh dịch ra chữ quốc ngữ để con cháu dễ xem, song vẫn lưu giữ bản gốc chữ Hán, cụ Huy đã dịch xong. Như vậy lại có thêm bản phả chữ quốc ngữ dịch ngày 6 tháng 4 năm Quý Mão 1963, cũng có cách nay trên 36 năm (2000), lúc đó cụ Huy cũng đã cao tuổi, giấy mực còn khó khăn nên cụ chỉ viết ở tập giấy thường, việc giữ gìn bảo quản lâu ngày không được.

Vì vậy phần giả phả vẫn giữ nguyên bút tích của các cụ kể cả bản chữ nho và chữ quốc ngữ, không dám sửa bỏ chữ nào, để sau này con cháu dễ tìm hiểu và so sánh, vì sao dòng họ lại có hai giai đoạn, giai đoạn là họ Phạm (dựa theo lời cụ Lê Quý Đôn) từ năm Nhâm Thìn năm 1592 trở về trước, giai đoạn là họ Khiếu từ năm 1592 trở lại đây (Canh Thìn 2000) và mãi mãi sau này.

Do hoàn cảnh chiến tranh giữa nhà Mạc và nhà Lê Trịnh, sau khi quân Lê Trịnh tấn công ra bắc, ác liệt nhất là vùng Hải Dương, quân đi đến đâu là tàn sát nhà cửa đến đó, các quân tướng của nhà Mạc bị bắt thì chẳng còn ai sống sót, do đó tổ ta là một vị quan đại thần triều Mạc, cũng sợ nhà Lê Trịnh trả đũa nên phải thay đổi tên họ cho mình và cho con cái, song vẫn là một dòng máu trên 500 năm qua các vị tiên tổ có từ đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497)

Vấn đề quan trọng là bút tích để lại cho con cháu đời sau hiểu được nguồn gốc tổ tiên dòng họ từ đâu, vì sao lại có hai giai đoạn của một dòng họ, nguyên nhân tổ ta phải thay tên đổi họ, phải “mai danh ẩn tích”, rồi ra đi không để lại một tích gì cũng không liên hệ với gia đình con cái.

Trước 4 đời tiên tổ khi chưa có Họ Khiếu, là Họ Phạm đi chăng nữa nhưng đều lót chữ Đình cũng chứng tỏ rằng đó là một nguồn gốc:

Cao Tổ Khảo tự Đình Thái sinh hai con trai Đình Quý – Đình Hòe.

Tằng Tổ Khảo tự Đình Lê sinh 3 trai: Đình Thành – Đình Triều – Đình Huy.

Hiền Khảo tự Đình Thành sinh 1 trai Đình Tuân, 2 gái Thị Nhị - Thị Hoa.

Xét về quê quán thì dòng họ Khiếu đã có trên 400 năm, nếu tính từ đời vị cao tổ Đình Thái thì đã có trên 500 năm ở đất Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, đạo Sơn Nam, con cái của các vị tiên tổ cũng sinh ra ở đây (7 con trai và 3 con gái) và phần mộ của tiên tổ ta ngày nay vẫn còn đó, có lẽ lúc đó mộ chưa được xây, lăng tẩm của vua chúa do đó mộ đắp rất to:

  • Một Cao Tổ ở mả ngô hướng nam.
  • Mộ Tằng Tổ ở gò cao hình kim quy hướng tây.
  • Mộ Hiển Tổ ở đồng vọng hình con rùa hướng nam.
  • Mộ Hiền Khảo ở mả cả hướng nam.

Lúc này chưa có họ Khiếu cũng chưa có tỉnh Thái Bình, vẫn còn là đạo Sơn Nam, đây là thời nhà Lê chia đất ra thành nhiều khu vực, mỗi khu vực là một đạo để dễ cai trị, vậy lúc này vẫn còn là họ Phạm, qua trên chứng minh rằng dòng họ tổ tiên ta đã ở đạo Sơn Nam từ lâu, lâu lắm, ít ra cũng trên 130 năm mới có họ Khiếu.

Vậy giai đoạn từ năm Nhâm Thìn (1592) trở về trước cứ để là họ Phạm có được không? Điều này không quan trọng lắm. Nước ta từ thời vua Hùng dựng nước dân số chỉ có 50 vạn người, có mấy dòng họ thôi, thế mà đến nay nước ta đã có trên 80 triệu người, trên 150 dòng họ của trên 60 dân tộc là một nước đang phát triển về kinh tế, một dân tộc anh hùng cả thế giới công nhận. Qua bao thời đại biến đổi tất nhiên dân số phát triển thì con người cũng phải thay đổi, chỉ nói về thay tên đổi họ: đỗ đạt cao làm quan to cũng có thể vua ban cho tên họ riêng, như đời vua Lê Lợi một số quan được phong vương, còn cho lấy họ nhà vua đặt cho con cháu, nhưng có người thay tên đổi họ vì cuộc sống, khi loạn lạc…

Riêng dòng họ ta là đặc biệt, người sinh ra và trưởng thành ở triều Mạc 47 năm, gần hết cả cuộc đời (thọ 61 tuổi) mà vẫn giấu tên họ, do vậy trong các triều đại nhà Mạc từ các khoa thi cử, từ các vị quan trong triều không thấy tên Phạm Đình Tuân, có người nói Phạm Hữu Năng quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương, điều này đã giải thích ở phần “Thân thế và sự nghiệp của Đình Tuân” vì Phạm Hữu Năng đã bị quân nhà Lê bắt đem về Thảo Tân hành hình, trong khi đó thì Khiếu Đình Tuân dẫn quân lên Thái Nguyên, vậy có thể người còn một danh tánh nào khác chăng?

Con cháu bao đời nay tuy vẫn theo di chúc để lại ở gia phả là tổ mình, người sáng lập ra dòng họ mình là Khiếu Đình Tuân đã 5 – 6 đời ở Phú Lạc đã đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Thìn 1592 niên hiệu Hồng Minh thứ hai triều Mạc, làm quan đến chức Thống tướng phụ quốc chưởng hàn lâm viện, mà sao người lại “mai danh ẩn tích” cho đến khi có chiến tranh thay tên đổi họ gởi con cái đi các nơi ra đi trở lại chiến trường.

Người học rộng tài cao, trung với nước, hiếu với dân, là một vị quan đại thần nhưng sống liêm khiết giản dị, khi ở kinh thành sống một mình không đem theo gia đình, được nhân dân quý mến, người lo cho gia đình con cái trước khi kinh thành thất thủ, khi đi lên Thái Nguyên người chỉ đem theo một con trai thứ tư là cụ Khiếu Đình Thiếp và bà con gái là Khiếu Thị Hằng, còn gởi lại các nơi, sau đó mỗi nơi thành một chi dòng Họ Khiếu:

1. Cụ con cả Khiếu Đình Vệ gởi cụ Nguyễn Thế Nho – bà Khiếu Thị Thiên gả cho cụ Bùi Tất Toàn người cùng làng Phú Lạc (chi cả).

2. Cụ Khiếu Đình Mai gởi cho thầy học là cụ Hà Tôn Phú ở xã Nam huyện Bình Hà, phủ Thuận An, Nghệ An.

3. Cụ Khiếu Đình Tài gởi cụ Phạm Trọng Dung xã Nhân Thanh – bà Khiếu Thị Phong gả cho cụ Phan Trọng Thảo cùng xã ấy.

4. Cụ Khiếu Đình Thiếp và bà Khiếu Thị Hằng theo tổ lên Thái Nguyên, người để ở Minh Tào.

5. Cụ Khiếu Đình Sức gởi học trò là cụ Đào Trọng Gia chi (xã) Kim Thanh, cụ Khiếu Thị Tèo gả cho cụ Đào Trọng Giảng cùng xã đó.

6. Cụ Khiếu Đình Hiến gởi thầy học là cụ Nguyễn Văn Dũng ở xã Ô Mễ.

7. Cụ Khiếu Đình Giảng gởi cho học trò tổ là cụ Nguyễn Đình Tương ở xã Xuân Lôi.

8. Cụ Khiếu Đình Thành gởi cho thầy học là cụ Nguyễn Văn Lô ở Thượng Phúc, An Lão, Thư Trì – bà Khiếu Thị Khuê gả cho cụ Nguyễn Văn Diện người cùng xã ấy.

9. Cụ Khiếu Đình Đông gởi cụ Đàm Văn Tuấn, xã Lạc Đạo (sau có một chi ở Quốc Oai, Sơn Tây).

Qua các cụ tổ ở 9 chi ta thấy lúc này đã là họ Khiếu nhưng vẫn lót chữ Đình, (gần đây có một số đã thay đổi chữ lót), từ giai đoạn này dòng họ Khiếu không còn đóng khung ở các chi, các làng do phát triển kinh tế, do yêu cầu công tác con cháu dòng họ Khiếu đã tỏa đi nhiều địa phương cả nước.

Nhớ lời tiên tổ dạy, noi theo ý chí cha ông để lại nhiều người đã học giỏi tài cao, ngang thời kỳ nhà Lê đến thời Pháp thuộc, nhiều cụ đỗ cử nhân, bảng nhãn tiến sĩ…

Cụ Khiếu Năng Tĩnh quê ở Trực Mỹ, Yên Thắng, Nam Định (nay là Ý Yến), năm Ất Dậu 1835 cách nay 165 năm (đến 2000) đời hậu Lê, năm 40 tuổi đỗ cử nhân 1870, năm 45 tuổi 1575 đỗ tiến sĩ làm đốc học Nam Định, rồi làm tế tửu Quốc Tử Giám (giám đốc) người có lòng yêu nước là một học giả uyên thâm, đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

Cụ Khiếu Hữu Thanh danh thần nhà Lê Trung Hưng, nhà nghèo có người giúp đỡ ăn học, học giỏi đỗ cao, vua gả công chúa cho nhưng xin không nhận, trở về kết hôn với người giúp cho ăn học khi xưa, cuộc sống thanh đạm, gia đình yên vui, nhân dân quý trọng.

Cụ Phạm Như Tòng (Khiếu Như Tòng) đời Lê Cảnh Hưng thứ hai (chiến thắng 1787 – 1788) ban đầu chỉ làm người lính, sau theo đánh giặc lập công, được vua phong chức “Quản binh trấn thủ Sơn Tây” sau theo Lê Chiêu Thống sang Trung Quốc, đầu niên hiệu Gia Long cùng đoàn công thần đưa hài cốt Lê Chiêu Thống về nước, được vua phong tước cao.

Thời sau ở các chi Nhân Thanh, Đồng Thanh, Trực Mỹ, Phú Lạc… nhiều cụ đỗ cử nhân, phó bảng.

Cụ Khiếu Hữu Anh chi Đồng Thanh hai lần đỗ phó bảng, khi vào thi vua đổi tên cho cụ là Khiếu Hữu Sử (do cụ làm bài hay bỏ quên dấu, quan trường quy là phạm tội khi quân, xử tội chết, nhưng vua Thành Thái là người hiếu học, đòi xem bài và cho người về gia đình xem có việc gì ảnh hưởng tư tưởng khi vào thi không, đúng là gia đình có cụ con trai chết, bài thi hay vua ghi đỗ bảng nhãn, sau quan trường đề nghị tha tội chết nhưng giảm một cấp là phó bảng.

Cụ không ra làm quan mà về nhà dạy học, nhiều học trò của cụ thành đạt, cụ Phạm Văn Thụ, tuần phủ Thái Bình cũng là học trò của cụ. Đến phong trào Cần Vương cụ đã cùng một số nhân sĩ hoạt động chống Pháp ở thị xã Thái Bình, cơ sở hoạt động của các cụ là chùa Chành hay còn gọi là chùa Tú Linh, thuộc xã Đồng Thanh, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Nay chùa được công nhận là “Di tích văn hóa và lịch sử” của tỉnh có tên cụ trong đó.

Đến thời Pháp thuộc và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ (1945 – 1975), nhiều con cháu dòng họ Khiếu đã tình nguyện tham gia vào Quân đội nhân dân Việt Nam, các ngành kinh tế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhiều người đã làm đến chức tướng tá, chuyên môn, ví như ông Khiếu Anh Lân ở chi Trực Mỹ, Nam Định đến chức trung tướng, Giám đốc Học viện Quân sự Đà Lạt.

Họ Khiếu ta ngày nay do yêu cầu phát triển kinh tế, xây dung đất nước, con cháu không còn đóng khung ở các chi nữa mà tỏa đi nhiều nơi trong cả nước, nhiều tỉnh thành, miền núi, miền Nam, rải rác đều có con cháu họ Khiếu, đó là một việc đáng mừng, là vinh dự cho dòng họ, xứng đáng lời dạy bảo của tổ tiên.

TÓM TẮT

Họ Khiếu ta đã có cách nay trên 400 năm (từ Nhâm Thìn 1592 đến Canh Thìn 2000), nên tính từ bốn đời các vị tiên tổ thì dòng họ ta có trên 500 ở thôn Phú Lac, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, đạo Sơn Nam, nay là huyện Vũ Thư (2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì hợp lại), tỉnh Thái Bình.

Người sáng lập ra họ Khiếu là tổ Khiếu Đình Tuân quê quán như ở trên, hiện nay ở nhà thờ đại tôn Phú Lạc vẫn còn bia đá khắc bốn chữ “Khiếu Trạng Nguyên Từ”, bốn ngôi mộ của các vị tiên tổ (mộ đất rất to) vẫn còn ở Phú Lạc đó. Hàng năm cứ đến ngày tế xuân 12 tháng 1 và ngày 12 tháng 6 ngày giỗ Tổ, con cháu ở các chi lại mua sắm lễ vật rủ nhau về nơi quê tổ, viếng mộ, dâng hương, thăm hỏi lẫn nhau, nhìn thấy tấm bia đá trên bàn thờ chính khắc chữ “Khiếu Trạng Nguyên Từ”, con cháu tưởng như tổ tiên vẫn còn đó.

Tổ ta sinh ra và trường thành ở triều Mạc, triều Mạc có 5 ngôi vua ở ngôi được 66 năm thì tổ ta đã có ở 4 ngôi vua, từ khi sinh ra đến khi mất là 61 năm, làm quan ở triều Mạc 17 năm, suốt 3 đời vua gần 56 năm triều đại này không ổn định, nội bộ lục đục, chiến tranh kéo dài. Là một vị quan đại thần của triều đình, một vị tướng có tài, sống giản dị, được vua tin cậy, quần thần mến phục, nhưng vì sao người phải “mai danh ẩn tích”, mãi khi kinh thành gần thất thủ người thay đổi tên họ đem gửi con cái gia đình xong người mới dẫn quân chạy lên Thái Nguyên, tách khỏi nhà Mạc mà cũng không chống lại quân nhà Lê Trịnh. Khi người chết chỉ hối hận là gia đình con cháu không được ở bên người, song đã có hàng vạn tướng sĩ lo chôn cất cho người, đắp mộ đá to, nay ở gần chùa Vạn Linh thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn mộ vẫn còn đó, cảnh chiến trường da ngựa bọc thây là thế đó!!!

Người mất năm Bính Tý 1596, thọ 61 tuổi, theo gia phả thì bây giờ con cháu lấy ngày 12 tháng 6 là ngày giỗ tổ.

Qua trên cho thấy lịch sử dòng họ ta vẫn còn nhiều điều ẩn khúc mà con cháu đời đời phải có trách nhiệm tìm hiểu bổ sung để mỗi năm mỗi đời được đầy đủ hơn.

Trước mắt tôi đề nghị trong họ bàn bạc mấy việc, mà tôi tin là làm được, nếu mọi người quyết tâm góp sức:

1. Tìm cho được mộ tổ ở Vạn Linh, khi tìm lại được rồi phải tu bổ lại như xưa, cần trao đổi với địa phương giúp đỡ, sau khi tu sửa cần cùng địa phương tu bổ lại chùa Vạn Linh vì đây là một di tích chung.

2. Việc xác định lại nguồn gốc trước là họ Phạm cũng cần làm.

3. Tìm chi Minh Tào, Thái Nguyên, nếu tìm được chắc còn nhiều điều di chúc của tổ khi để lại hai con ở đây rồi người mới qua Vạn Linh.

Đây là phần dự thảo tôi rất mong được bà con trong họ góp ý, nhất là các ông bà cao tuổi có hiểu biết ít nhiều về nguồn gốc dòng họ ta. Nếu được thì ngày 12 tháng 1 hoặc ngày 12 tháng 6 con cháu về đầy đủ tổ chức hội thảo thì tốt, sau khi trong họ góp ý kiến bổ sung coi đó là trong họ đã đồng ý với bản dự thảo “Lịch sử và gia phả Họ Khiếu” sẽ in lại chính thức.

Riêng gia phả các chi thì chỉ mới có chi Đồng Thanh có, nên tôi chỉ in cho chi Đồng Thanh, mong rằng các chi khác cũng có phả của chi mình để lưu ở nhà tờ Đại Tôn.

 

 

Ngày 19 tháng 8 năm Canh Thìn (2000)

Cháu 12 đời chi Đồng Thanh

Kính cẩn

 

 

Khiếu Hữu Liệu

 



 

TÓM TẮT SƠ LƯỢC

GIA PHẢ HỌ KHIẾU

------------

Họ Khiếu chúng ta là một dòng họ đặc biệt. Đặc biệt vì đó là một dòng họ duy nhất, cả nước Việt Nam chỉ có một Họ Khiếu. Ai đã mang Họ Khiếu dù ở trong Nam, miền Trung hay miền Bắc dù ở vùng núi rừng biên giới hay ở hải đảo xa xôi, dù ở miền ngược hay miền xuôi, tỉnh này hay tỉnh nọ, đều là anh em cùng chung dòng máu của một vị thủy tổ sinh ra. Tổ chúng ta là cụ Khiếu Đình Tuân.

Tổ Khiếu Đình Tuân, gốc quê ở thôn Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, đạo Sơn nam. Nay (1995) là thôn Phú Lạc, xã Phú Xuân, thị xã Thái Bình. Nơi đây vẫn còn từ đường thờ Tổ, có tấm bia đá để thờ, bia mang dòng chữ: “KHIẾU TRẠNG NGUYÊN TỪ”.

* Tổ ta đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn, triều Mạc Hồng Minh 2.

* Tổ làm quan triều Mạc, quan văn tới chức Chưởng Viện Hán Lâm, quan võ tới chức Thống Tướng Phụ Quốc.

Họ Khiếu chúng ta trước là họ Phạm. Cuối thế kỷ thứ 16, quân Lê - Trịnh huy động toàn lực tấn công, quân Mạc yếu thế phải rút khỏi kinh thành, chạy lên vùng rừng núi Việt Bắc. Tổ ta giữ khí tiết “TÔI TRUNG KHÔNG THỜ 2 VUA”, tổ đã cùng nhà Mạc rút lên Cao Bằng. Tổ có 9 cụ con trai, 5 cụ con gái. Trước khi ra đi, Tổ đổi họ Phạm thành họ Khiếu, gả chồng cho các cụ con gái, đem 08 cụ con trai gửi ở các nơi, Tổ chỉ cho cụ Khiếu Đình Thiếp (con trai thứ 4) và cụ Khiếu Thị Hằng đi theo tổ.

Hiện nay, mộ Tổ ở đâu, cháu chắt bao đời tìm kiếm chưa thấy, trong gia phả chỉ ghi: “Hiện nay ở chùa Vạn Linh, châu Minh Tào, huyện Bình Dương, phủ Phụng Thiên còn có bia đá khắc chữ:

“TRẠNG NGUYÊN KHIẾU TƯỚNG CÔNG THỌ SỞ”.

狀 元 呌 相 公 壽 所

GIA PHẢ HỌ KHIẾU DIỄN NGHĨA

Mấy ý kiến trước khi dịch:

Gia phả họ ta từ cụ Thủy tổ - Trạng nguyên Khiếu Tướng công - cùng nhà Mạc lên giữ Thái Nguyên, trước kia không có dấu tích gì tra xét được. Mãi đến ngày 20 tháng 3 năm Tân Mão đời Lê Cảnh Hưng (1771) thứ 32 (xem bái tựa gia phả chi Đồng Thanh mới nhận được phả sao ở chi Minh Tào (Thái Nguyên) gửi người Phú Lạc mang về. Từ đó bao đời con cháu nghiên cứu bàn bạc sự tích Tiên tổ, bao công việc xây dựng Tổ đường, những lời khuyên răn dạy bảo con cháu, những con cháu từ xa xôi nhớ nguồn gốc tìm về làng cũ lễ nhà thờ nhận họ, mỗi việc đều ghi chép thành một trang gia sử phong phú.

Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) làm chết hơn 2 triệu người, tội ác vì giặc Nhật bắt phá ngô, lúa trồng đay, thu thóc gây ra. Bố con ông trưởng Khiếu Đình Đán, Khiếu Đình Thản cũng là một trong những nạn nhân đau thương ấy – Họ ta rải rác khắp nơi, chắc số nạn nhân này không ít – Bố con ông Đán chết, gia phả cất ở nhà thờ Đại Tôn cũng bị mất. Mười năm (1945 – 1954) kháng chiến nảy lửa, nhân dân ta không chịu khuất phục bọn giặc Pháp, bọn tay sai bán nước. Chúng chực quàng ách thống trị lên đầu lên cổ nhân dân ta một lần nữa. Chúng khủng bố, giết chóc, hãm hiếp, đốt phá. Cháy thành vạ lây, những bản phả sao ở các chi Nhân Thanh, Đồng Thanh, Xuân Lôi, An Lão… bản thì cất dấu xuống hầm bị mục nát, bản thì bị giặc lục soát đốt xé đi mất. Nói đến đây, thấy mũi cay, mặt nóng, lòng sôi sục căm ghét bọn phát xít, bọn thực dân, bọn tay sai bán nước.

Hòa bình lập lại cũng như sau cải cách ruộng đất, đời sống nông thôn được dần dần cải thiện, đường giao thông ngày một dễ dàng, anh em con cháu trong họ từ gần từ xa lần lượt về thăm quê hương Tiên tổ.

Ngày… tháng… năm… ông Khiếu Hữu Bài, chi Đồng Thanh nhân vào thăm ông Khiếu Hữu Bài ở xóm 6, thôn Hoàng Cương, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa). Ông Úy cho mượn bản phả sao của ông còn giữ được. Ông Bài mang về. Tôi mừng quá báo tin ngay với ông trưởng Khiếu Đình Chơi, ngày xuân tế năm nay tôi lại báo tin ấy trước họ. Theo đề nghị của ông Chơi cũng như ý kiến chung của họ, tôi hứa đến ngày 12 tháng 6 ngày giỗ Tiên tổ sẽ hoàn thành căn bản việc dịch phả ra quốc văn.

Xét bản phả này chi Đại Điền (Thanh Hóa) sau ở nhà thờ đại tôn Phú Lạc vào khoảng trước sau năm Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 33 tính đến nay có tới trên dưới 85 năm. Phả do các cụ Khiếu Như Công, chi An Lão, cụ Khiếu Hữu Tín chi Đồng Thanh nghiên cứu, bàn bạc, sắp xếp thành từng mục rất rõ ràng, nhưng trước khi sao cũng đã trải qua bao nhiêu lần sao chép không khỏi có chỗ sai lầm. Vả lại vạn vật biến chuyển không ngừng, có tiến không lùi, nên có việc thích hợp với trước kia mà không thích hợp với ngày nay. Vậy trước khi dịch tôi xin phát biểu mấy ý kiến chủ quan như sau:

- Trong phả có những mẫu chuyện năm mơ, chuyện xem đất… với xã hội hiện thực ngày nay không thích hợp nữa, vì có ý tồn cổ nên không lược bỏ đi, cũng như sử sách có chuyện Thánh Gióng, chuyện Nỏ Thần vậy.

- Cụ Khiếu Hữu Đỉnh rước cụ Khiếu Hữu Tín phối phụ năm Canh Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 23 mà ở bài tựa gia phả cụ Tín viết để năm Canh Thìn, Tự Đức thứ 33 không lý do gì con rước cha phối phụ từ trước 10 năm khi cha còn sống. Chắc là chép đi chép lại sai lầm đó thôi.

- Văn tế Tổ có phôi phụ Tiên tổ ở các chi, theo phả cũ chỉ tóm tắt các cụ đại tiểu tôn tăng tự, tổ khảo các chi phối phụ cũng thiếu nhiều các cụ phối phụ về sau. Nay dịch theo bản ở ông Chơi còn giữ được đầy đủ hơn.

- Mục tế khí nay ghi thêm bộ ngũ sự đồng mới sắm về sau, họ bán lấy tiền mua công phiếu kháng chiến.

- Khi chép phả các cụ đã nhấn mạnh nhiều đến vấn đề dạy bảo con cháu: nào là phải nghĩ sao làm con thảo cháu hiền – nào là cùng dòng họ thì yêu quý nhau… Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ngày nay tình yêu quốc tế còn rộng rãi hơn, luật hôn nhân mới lại thích nghi hơn, nhưng vẫn dịch theo nguyên văn để dễ so sánh và thấy rõ chế độ mới tốt đẹp như thế nào.

- Trong khi dịch những chỗ ghi thêm có đánh dấu ngoặc đơn cho dễ phân biệt.

- Bản phả này trước không có mà sau lại được ở nơi xa gửi về, có lúc mất đi ở chỗ này nhưng lại thấy ở nơi khác, tiếc rằng một giai đoạn từ sau năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 đến năm Ất Dậu (1945) thì không còn tìm đâu ra được. Nay nên tiếp tục ghi chép những mẫu chuyện vốn tỏ tấm lòng từ hòa bình lập lại để con cháu về sau rõ. Và mỗi khi có chuyện hay, mới lạ đều nên gửi cho các chi cùng ghi chép để phòng mất mát.

- Khả năng hiểu biết có hạn trong khi dịch có chỗ cần phải để lại:

a/ Hai bài văn tế của cụ phủ Nam Sách và cụ Khiếu Hữu Tráo soạn.

b/ Tám chữ: Tam Nhi Thành Nhân, Nhất Dĩ Quán Vạn 三 而 成 人 一以 貫 萬 trong bài văn tế cụ Khiếu Hữu Tín soạn. 

Còn đợi tìm bậc túc nho thâm thúy nhờ dịch giúp những câu trên và chỉnh lý lại toàn bộ sẽ bổ sung sau.

Bản dịch này mới gọi là căn bản hoàn thành thôi.

 

Ngày 6 tháng 4 năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thứ 18

(Quí Mão 1963).

Chi Đồng – Thanh cháu mười một đời Khiếu Hữu Huy

              Kính Thảo!

 

Ghi chú:

Năm Tân Mão đời Lê Cảnh Hưng, thứ 32 là năm 1779 – Canh Thìn, Tự Đức thứ 33 là năm 1880.

 



 

GIA KÊ HỌ KHIẾU

Nhà có “Gia kê” đã từ lâu rồi – Gia chuyện của Lý Nghiệp Hầu, gia phả của Chu Liêm Khê cũng như niên phả của Châu Thị, tên gọi tuy có khác nhưng đều để ghi nhớ những việc từ trước.

Họ Khiếu ta bao đời ở thôn Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam, công đức tổ tiên trăm đời vẫn còn, con cháu thảo hiền muôn năm càng rõ, như vậy việc chép phả bỏ thiếu sao được.

Thiết nghĩ: Trước có giời, rồi sau có đất, do khí hóa mà sinh ra người, từ khi có thành họ riêng, con cháu đất gốc ở tổ tiên không thể nào quên được. Vậy tập hợp bản ghi của các nhà để dạy con cháu sau, bớt lời bóng bẩy, rút cách ghi chép lời lẽ diễn đạt không sai ngoa, gọi là “Gia kê họ Khiếu” Kê có nghĩa là xét, ngày xưa vua muốn không nghe lời nói không căn cứ, quan chép sử nói là tra cứu sự việc xưa. Con cháu đời sau có ai noi chí ta, làm việc ta, nhân đây mà ghi chép thêm, làm cho sự tích đời đời được rõ ràng, hầu thỏa lòng mong muốn của ta.

Từ nay về sau, mỗi đời lại một đời ghi chép thêm, nhân đó sẽ thành tập.

Cháu bảy đời: Lê triều khăm thị thị trung thôi dực vận, đồng đức công thần Phụ Quốc Thượng Tướng quân, chánh để lãnh tứ thành quân vụ, quân Sơn Tây trấn thủ, dao lĩnh Tuyên Quang. Hương Hóa đẳng đạo tham dự triều chính, tham đốc cận quang hầu.

                                                                                     Kính soạn!

Kinh Lễ có câu: “Biệt tử vi tổ 別子為祖- ý nói người con xây dựng nên sự nghiệp, đặc biệt là ông tổ. Nói ngay như dòng họ dân gian ở một nước nào đó có người làm đến khanh đại phu có danh vọng khác người gọi là “biệt tử”, “vi tổ” nghĩa là với đời sau là cụ tổ.

Cụ tổ chúng ta lấy văn học thi đỗ cao (Trạng nguyên), làm quan to (Thống tướng) giúp nước có công lao lớn, ông cha được vinh phong, con cháu được tập ấm, không khác gì quan khanh đại phụ ngày xưa có công đức với dân nên được vua ban tên họ, như thế là đời đời không thay đổi nữa.

Anh em cùng họ chúng ta lập miếu thờ Người làm Thủy tổ để ruộng tế, sắm đồ thờ, hàng năm tháng 2 họp họ vui vẻ linh đình đó là noi chí hướng tiền nhân.

Nhớ đấng Tiên tổ ta đỗ đạt lừng danh thiên hạ, công lao mức tiếng triều đình, lấy trung tín làm tâm hồn, để an minh chia con cháu. Người nghĩa sâu xa lắm! Sao Bắc Đẩu là họng lưỡi của bầu trời. Người chọn lấy hai chữ “Đầu khẩu - 头 口” đặt riêng một họ “Khiếu - 呌” để rõ nguồn gốc họ ta cùng giời đất cùng lâu dài. Xét thủy khẩu để tầm tông không đến nỗi nhầm như chuyện Địch Thanh đời Tống. Đó là khí mạch lưu chú. Dù rằng con cháu có thay đổi nơi ở, nhưng cũng như chuyện chuông đồng, chuyện đá nam châm là những lời bàn có ý nghĩa “một gốc” rất sâu xa. Đó là tình ý của Tiên tổ ta nuôi dưỡng nguồn gốc.

Đến nơi nhà thờ đây là phải nghĩ sao làm con thảo, làm cháu kiên, mà sửa chữa tính nết, ráng bước yêu nghề, để khỏi phụ danh tiếng của Tiên tổ.

Cùng dòng dõi thì yêu quý nhau, đừng đổi họ mà nhận quàng. Muốn đời sau còn nhắc nhở với con cháu rằng: “bút kính thiên, gồ kim quy, cùng thổ tinh” đới mộc có hai thần đồng bên tai là nơi phần mộ tổ tiên của Tiên tổ ta đấy.

Về nơi làng cũ của Tiên tổ ở Phúc Lạc (nay là thôn Phú Lạc, xã Phú Xuân, tỉnh Thái Bình) có miếu thờ, có bia đá khắc bốn chữ “Khiếu Trạng Nguyên Từ” như thấy Tiên tổ ta.

Các chi Nhâm Thanh, Kim Thanh, Ô Mễ, Xuân Lôi, An Lão, Thượng Phúc đều là anh em cùng họ cả; đến như chi Trạch Mi ở huyện Quảng Oai (Sơn Tây), chi Chân Mĩ ở huyện Đại An (Nam Định) hiện nay trong phả để tên họ ta, cũng có người đỗ đạt, phải chăng dây dưa xa xôi đó thôi; duy có chi xuống Lạc Đạo, chi tên Thái Nguyên thì vào Nam Đường (Nghệ An) đều chưa tìm ra manh mối rõ ràng.

Tóm lại, cùng dòng dõi phải thêm yêu nhau để càng thấy rõ Tiên tổ ta đức lớn sáng ngời, cho muôn con cháu đời đời thịnh vượng. Điều đó không thể nào quên được.

 

Ngày 12 tháng 2 năm Canh Thìn niên, hiệu Tự Đức thứ 33 (1880).

Chi Kim Thanh cháu chín đời: Kinh khoa tú tài Khiếu Hữu Tín.

Kính soạn!

 



 

GIA PHẢ

Tiên tổ ta là cụ Khiếu Đình Tuân 呌 廷 遵 ở thôn Phú Lạc, xã Phương Lai, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình.

Người đỗ trạng nguyên (đệ nhất giáp thìn niên hiệu Hồng Minh năm thứ hai triều Mạc, làm thống tướng (đô vệ, thư tông triều chính, Chưởng Hàn Lâm Viện - Thống Tướng Phụ Quốc). Lúc đó chúa Trịnh (Trịnh Kiểm) giúp nhà Lê, nhà Mạc thất thủ kinh thành. Người theo nhà Mạc, lên giữ Thái Nguyên. Hiện nay ở chùa Vạn Linh, châu Minh Tào, huyện Bình Dương, phủ Phúc Cao còn có bia khắc chữ: “Trạng Nguyên Khiếu Tướng Công Thọ Sở”

Xét các tổ tiên sinh ra tiên tổ.

Cao tổ khảo đồng tri huyện Khiếu quí công tự Đình Thái thụy Nhã Hiển phủ quân - Mộ ở Mả Ngô hướng đông nam.

Cao tổ tỉ Nguyễn Thị Hằng nhất hiệu Từ trung nhị nhân - Mộ ở Mả Ngô trông hướng tây. Sinh các cụ: Đình Quý, Đình Hòe.

Tằng tổ khảo nho sinh kiêm thập lý hầu Khiếu quý công tự Đình Quý, thụy Phúc ngụy phủ quân - Mộ ở giữa Gồ cao hành kim qui (rùa vàng) trông hướng tây.

Tằng tổ tỉ Bùi Thị Hằng nhi hiệu Từ thanh nhu nhân - Mộ ở Gồ cao trông hướng nam. Sinh một giai một gái: cụ Đình Lê và cụ Thị Dương.

Hiển tổ khảo trùm xã tăng thiếu bảo thanh dương hầu Khiếu quí công tự Đình Lê thụy Phúc nghiêm phủ quân. Mộ ở Đồng Vọng đầu con mộc trông hướng nam.

Hiển tổ tỉ Đinh Thị Hàng nhất hiệu Trí tường nhụ nhân. Mộ ở Nong lau, hình trâu vàng nổi, tục gọi bút kính thiên trông hướng nam. Sinh ba giai là các cụ Đình Thành, Đình Triều, Đình Dụng.

Hiển khảo bản phủ hiệu hiệu sinh Riêm thập lý hầu tặng thái bảo Khiếu quí công tử Đình Thành thụy Phúc minh tiên sinh. Mộ ở Mả cả, trông hướng nam.

Hiển tỉ Lê Thị Hằng tam hiệu Tư huệ nhụ nhân - Mộ ở Mả quan, hỉnh thổ tinh đơi mộc trông hướng đông. Sinh hai gái là các cụ: Thị Nhị, Thị Hoa, một giai tức là Tiên tổ ta.

Người bốn phòng thê thiếp sinh chín giai năm gái.

Cụ cả là Nguyễn Thị Dương sinh bốn giai là các cụ: Đình Vệ, Đình Mai, Đình Tài, Đình Thiếp.

Cụ thứ là Phạm Thị Phương sinh hai gái là các cụ:Thị Tào, Thị Khê.

Cụ thứ ba là Bùi Thị Chuẩn sinh hai giai một gái là các cụ: Đình Sức, Đình Hiếu, Thị Thiên.

Cụ thứ tư là Đinh Thị Đạo sinh ba giai hai gái là các cụ: Đình Giang, Đình Thanh, Đình Đông, Thị Hằng, Thị Phong.

Tiên tổ ta, Người nhìn thời cơ rất sáng suốt, nghĩ rất sâu xa, đem mình cống hiến cho nước, nghĩa chẳng quên vua. Người cho mẹ nào theo con nấy, tùy tiện gửi các bạn thân:

Cụ Khiếu Đình Vệ (con cả) gửi cụ Nguyễn Thế Nho, cụ Thị Thiên gả cho cụ Bùi Tất Toàn cùng ở làng.

Cụ Đình Mai (con thứ hai) gửi con thầy học là cụ Hà Tôn Phú ở xã Nam Đường huyện Bình Hà Phủ Thuận An tỉnh Nghệ An.

Cụ Đình Tài (con thứ ba) gửi cụ Phan Trọng Bong xã Nhâm Thanh, cụ Thị Phong gả cho cụ Phan Trọng Thâm xã ấy.

Cụ Đình Sắc (con thứ năm) gửi học trò là cụ Đào Trọng Giá ở xã Kim Thanh, cụ Thị Tào gả cho cụ Đào Trọng Giảng xã ấy.

Cụ Đình Hiếu (con thứ sáu) gửi con thầy học là cụ Nguyễn Văn Dũng ở xã Ô Mễ.

Cụ Đình Giảng (con thứ bảy) gửi học trò là cụ Nguyễn Đình Tương ở thôn Xuân Lôi xã Tri Lai.

Cụ Đình Thanh (con thứ tám) gửi con thầy học là cụ Nguyễn Văn Lô ở Thượng Phúc xã An Lão, huyện Thủ Trì, cụ Thị Khê gả cho cụ Nguyễn Văn Diệu xã ấy.

Cụ Đình Đông (con thứ chín) gửi cụ Đoàn Văn Tuấn ở xã Lạc Đạo.

Duy cụ Đình Thiếp (con thứ tư)  =  và gái là cụ Thị Hằng theo Người lên Thái Nguyên mấy đời tập ấm (xem phụ lục) dòng rõi rất là thịnh vượng. Sau lại có một cỏi ở huyện Thượng Oai (Sơn tây) đời đời hào hữu trong huyện đối cụ giảm sinh Khiếu Đình lâm coi nhà thờ, mơ thấy vị quan bảo: quét dọn nhà thờ, mai có con cháu ta đến lễ. Vị quan đó hành nghi rất oai nghiêm, có hai lá cờ thêu hai câu đối:

Thiên nhất địa nhị sinh.

Cấn thất khôn bát quái.

天一地二生

艮七坤八卦

Giời đất sinh ra, vì dân nước lập nên sự nghiệp.

Vận đời cùng cực, như núi sông lật đổ lộn nhào.

Vạn lý quan san bá dẫn, thân hồ kỳ thân

Cửu toàn linh sông hữu trị, viễn nhi bất viễn.

萬里關山播引,親乎其親

九旋靈江有治,遠而不遠

Hương hồn chín suối hay chăng, cách trở không trở cách.

Non nước muôn trùng, tình thân càng thấy thân tình.

(Nói câu đối trên sau khắc thờ Người, hiện nay vẫn còn)

Tỉnh giấc, cụ Lâm sửa trạm chờ đón. Quả nhiên ngày hôm sau có quan tri phủ  Đoan Hùng về lễ nhà thờ. Quan phủ là cụ Khiếu Đình Quí ở chi An Lão.

Lúc đó quan đồng tri phủ Đoan Hùng đoán đôi câu đối trên: “Cháu bảy đời Người sẽ có người nối nghiệp được nhiều người”.

Phụ lục.

Cụ Đình Thiếp: Thụ triều xuyên hầu kiêm tống binh thống lĩnh Khiếu Quí tống tự Phúc huyền.

Cụ bà Bùi Thị Hằng tam hiệu Từ duy.

Sinh ba giai bốn gái là các cụ: Đình Uyên, Đình Trụ, Đình Trăm, Thị Tựa, Thị Thuộc, Thị Quyên, Thị Châm.

Cụ Đình Uyên: Thụ triều liệt đại phu kiệm tổng thông lãnh tùy Khiếu quí công thụy Phúc bình.

Cụ bà Vương Thị Hàng nhị hiệu Từ hảo.

Sinh bốn giai một gái là các cụ: Đình Tôn, Đình Bảo, Đình Trực, Đình Mao, Thị Quần.

Cụ Đình Tôn Thụ bá tiên hầu, kiêm tả quan nam nội thành Khiếu quí công tự Phúc thiện.

Cụ bà: Vương Thị Hàng nhi hiệu Từ tâm.

Sinh hai giai hai gái là các cụ: Đình Độ, Đình Toản, Thị Chính, Thị Đống.

Cụ Đình Độ Thụ bá phó hầu, kiêm tùy chính sứ Khiếu quí công thụy Phúc thực.

Cụ bà: Tạ Thị Nhị nương hiệu Từ hạnh.

Sinh năm giai hai gái là các cụ: Đình Tiêu, Đình Thiều, Đình Lễ, Đình Bá, Đình Tiền, Thị Tạ, Thị Phi.

Cụ Đình Tiêu Nho sinh kiêm tổng binh tùy chánh sứ Khiếu quí công thụy Phúc trang.

Cụ bà: Đinh Thị Hàng nhị hiệu Từ mĩ.

Sinh ba giai một gái là các cụ Đình Liêm, Đình Thố, Đình Gia, Thị Nha.

Cụ Đình Liêm Nho sinh thị tri sự phụ tướng Khiếu quí công thụy Phúc minh.

Cụ bà: Nguyễn Thị Nhị nương hiệu Từ dụ.

Sinh hai giai một gái là các cụ: Đình Phan, Đình Vang, Thị Ngọc.

Cụ Đình Phan – Nho sinh thụ giám binh thống lĩnh Khiếu quí công thụy Minh lương.

Cụ bà: Vương Thị Hàng tam hiệu Từ quảng

Sinh ba giai một gái là các cụ: Đình Tạm, Đình Lâm, Đình Ích, Thị La.

Cụ Đình Tạm sinh năm giai bốn gái là các cụ: Đình Liên, Đình Cứ, Đình Tiến, Đình Duy, Đình Châu, Thị Phúc, Thị Định, Thị Minh, Thị Cấp.

Noi theo lệ cũ

Các chi con cháu đỗ đạt về lễ Tổ, lệ mừng như sau:

- Đỗ đính năm kỳ mừng        20 quan.

- Đỗ hội bốn kỳ mừng           10 quan.

- Được thăng chức kỳ mừng  5 quan.

- Đỗ giám sinh kỳ mừng        3 quan.

- Đỗ hiệu sinh kỳ mừng         1 quan 5 tiền.

Ngày mở tiệc khao vọng sẽ sửa lễ đến mừng.

 

Mới chua như sau:

Nhà thờ: Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), mới làm ngôi nhà thờ hướng nam, dựng bia khắc chữ. Sào thổ ở khu giữa làng (do nộp thay tiến tê phụ 20 quan) để làm nơi công sở vĩnh viễn. Sau này tường mái có hư hỏng nên sửa chữa luôn. Nơi đất làm nhà thờ không được bán đổi (lại mới tậu thêm năm miếng ở phía đông)

Tế tự: Hàng năm trong bốn ngày: 30,1,2,3 tết các chi Phúc Lạc, Xuân Lôi, Nhân Thanh, Kim Thanh lần lượt sửa lễ xôi, gà, cau, rượu dâng lên nhà thờ; đến ngày 12 tháng 2 sửa lễ xôi lợn họp họ tế xuân; ngày 12 tháng 6 tùy nghi làm giỗ. Lễ hai tiết này lấy tiền hoa lợi cho thuê ruộng và tiến lãi.

Ruộng tế: Ruộng tế ở xã Nhân Thanh 1 mẫu 2 sào (đông tây xứ sở chua rõ trong văn tự giao trưởng họ là cụ Khiếu Đình Khôi giữ) cho thân nhân cày cấy, hàng năm trừ nộp thuế lệ, mỗi mẫu thu hoa lợi 15 quan. (Nguyên trước ruộng ở thôn Thắng - cựu, khoảng năm Bính Dần, cả họ thấy không tiện cày cấy, nên mới bán đi mua sang xã Nhân Thanh.

Đồ thờ: Ba đái rượu; Một bình hương; Một nậm rượu; Một hương án;  Một ống nến; Một cỗ khám; Hai đái nước; Một chúc bản; Một quán tẩy; Mười chín rượu.

(Trung gian có sắm bộ ngũ sự đồng, nhưng trong kháng chiến chống Pháp họ bán được tám nghìn và họ chi Phú Lạc bán chạy được hai nghìn đem mua công phiếu kháng chiến. Công phiếu bị mất. Lời ông trưởng Thơi ghi lại để rõ)

Phối hưởng: Các chi nếu có ai rước tổ khảo phối phu vào nhà thờ thì nên cúng vào một sào làm ruộng dấu hương hoặc cấn tiền 10 quan.

Phúng viếng:  Chi nào nếu có bậc già cả mất đi do trưởng chi chi ấy tùy tiền sửa lễ rồi báo cho trường họ cả báo đi các chi đúng ngày đi viếng. Tiền sửa lễ trị giá 6 tiền sau sẽ hoàn lại.

Khuyên răn: Mọi người cùng họ thân yêu đều phải giữ đúng 10 điều huấn sắc của nhà nước làm dân lành, làm con ngoan đừng làm điều gì nhơ nhuốc, nếu ai sai trái đến ngày tế Tổ sẽ đưa ra khuyên bảo. Và theo lễ là cùng họ muôn đời không lấy lẫn nhau điều đó phải rất thận trọng. Ai có con gái gả chồng phải nộp 3 tiền.

Như trên tôi đã phát biểu: Dưới chế độ xã hội ngày nay tình yêu quốc tế còn rộng rãi hơn, luật hôn nhân mới còn thích nghi hơn, nhưng lời khuyên răn vẫn dịch nguyên văn để dễ so sánh và thấy rõ chế độ mới tốt đẹp như thế nào mà càng tin tưởng sâu sắc vào đường lối giáo dục của Đảng và Chính phủ. Anh em cùng họ chúng ta hãy khuyên nhau chấp hành nghiêm chỉnh mọi chính sách của Nhà nước, làm người công dân trung thành với Tổ quốc.

Bị ký: Trước kia các cụ trong họ đồng thời với cụ Cận quang hầu đã dựng lại năm gian nhà thờ bằng gỗ tạp, tạc bài vị tiên tổ, lấy tháng hai họ tế xuân, nhưng sau nhà gỗ mọt nát dỡ đi; nơi đất làm nhà thờ lại không phải là của công họ; hơn nữa tiền nợ lãi không phải là món lâu dài, đến năm Quý Mão niêu hiệu Thiệu Trị (1843) thứ ba, cụ Khiếu Hữu Trác chi Kim Thanh về hưu dưỡng mới cùng bà con trong họ bàn làm nhà thờ, nhân cụ Khiếu Đình Thọ chi Xuân Lôi trước xem được chỗ đất ở cái ngõ đá giữa làng, phong cảnh đẹp mắt đáng làm nơi thờ tự lâu dài cho họ ta. Tạo vật cũng sẵn lòng lắm thay! Hỏi chủ đất là ai? Lại là của cụ Khiếu Đức Thắng chi Xuân Lôi dễ cho việc mới kinh doanh lắm, nên các cụ hết sức xây dựng ngay.

Các cụ định thu tiền tê phụ, bổ nhân suất để lo liệu mua ruộng tế. Lại đặt thêm lễ ngày ba mươi và ba ngày tết, cùng lệ phúng viếng. Nơi đất làm nhà thờ là cấn tiền tê phụ 20 quan. Vậy ghi lại để sau rõ. Từ nay có ai hiển đạt hãy noi chí tiền nhân, gương trước chớ quyên, hoặc để ruộng, hoặc cấn tiền, thiếu đâu bù đấy, hoặc làm to thêm, đó là điều mong muốn lắm.

Tham khảo: Xét chi Lạc Đạo là dòng dõi cụ Đình Đông con thứ chín Cụ Trạng. Người gửi Cụ Đoàn Văn Tuần xã ấy. Nay xã ấy họ Đoàn rất to, mà sao họ ta không có ai? Hay là đổi họ rồi chăng? Xem bia thứ nhất trong văn từ huyện Vũ Tiên đề niên hiệu Vĩnh Thịnh (1715) có tên cụ hiệu sinh Khiếu Đăng Diệp ở đấy, như vậy khi ấy cuối đời Lê còn thịnh vượng lắm. Nghe chuyện một cụ kỳ lão thôn Phúc Lạc nói nhân đi xem đất đến thôn Đông Trung, huyện Trực Định thấy có người họ Khiếu, người ấy nói là ở Lạc Đạo xuống đấy vẫn giữ nguyên họ không thay đổi. Sau có ai thấy thế chớ nên bỏ qua.

Biện nghi: Xét 30 năm là một đời. Nhà Mạc ở Cao Bằng 03 đời cũng đến 90 năm mới rời vào nội địa Thái Nguyên, như vậy dòng dõi cụ Đình Thiếp được tập phong rất đúng, nhưng sao sáu bảy đời còn có phong hiệu, cùng ngang hàng với cụ Đề Lãnh Cận quang hầu thì thật là không thể nào biết được.

Lại xét bản đồ thuộc năm Hồng Đức với địa dư chí ngày nay thì Cao Bằng vốn thuộc Thái Nguyên, sau đời Lê Vĩnh Trị mới (1680) đặt riêng thành tỉnh, thế thời phủ Phúc Cao hẳn là tên cũ của Cao Bằng. Duy có huyện Bình Dương châu Minh Tào, cũng như huyện Bình Hà, phủ Thuận An (Nghệ An) không biết thay đổi từ bao giờ.

Tập này ghi rõ phần mộ tiên tổ ở gò nào, hướng gò, cũng như các cụ bà sinh ra cụ nào, ở làng nào rõ như bàn cờ, như sao đẩu. Với cụ Đình Thiếp lại rất rõ ràng. Không để tâm thì sao được thế. Duy hành trang Tiên tổ không rõ ràng lắm và gồ con Thỏ, hay con Bim cũng không chưa rõ là điều đáng tiếc.

Xem trong các họ phối phụ ở đình Kim Bảng thì họ Khiếu đứng thứ năm trong 12 họ, riêng thiếu họ Đào là vì cớ gì?

Đến như các chi Nhân Thanh, An Lão... có di cư đi nơi nào mà vẫn nhớ tên cũ làng xưa lấy đó làm tiếng gọi, càng thấy rõ Tiên tổ ta nghĩ rất sâu xa chu đáo lắm. Nếu không có điều khác hẳn người như vậy thì “trần” nhầm ra “trình” ai còn phân biệt được “hợi với thi, lỗ với ngư” nữa. Ý nghĩa “một gốc” quan trọng như vậy.

Nhà có phả cũng như nước có sử, xuân thu không có thế, không lấy gì thấy rõ được thế hệ từ đầu để nhớ lại công đức của tiền nhân được.

Nghe đâu bản phả này trung gian bị mất, cụ An Lão mới thấy ở Đoan Hùng. Đoan Hùng nay là huyện Quảng Oai, Trạch Mĩ. Thiết nghĩ nơi đây hẳn là dòng rõi cụ Đình Thiếp rời đến, về sau còn cháu đông đúc thành làng, cũng như chi Châu Mĩ, huyện Đại An ngày nay.

Cụ phủ thấy họ ta đoán hẳn là anh em không còn khác, nên mới theo dòng mà tìm nguồn gốc, lời văn dù quê kệch nhưng không sai sự thật, thật đáng lấy làm bằng.

Giấc mơ quan san muôn dặm xa xăm. Tiên tổ ta thiêng liêng lắm thay!

Lời nói con cháu bảy đời hiển đạt, cụ phủ đoán tài thật!

Tín tôi giám xin bàn bạc và soạn bài văn tế như sau:

                              Cung duy! 

Tiên tổ khoa phát đỉnh nguyên tài kiêm tướng súy, trụ thạch cương thường, nhật tinh đạo nghĩa, trung tín lập tâm, an ninh dị tử, đức thịnh lưu quang, phồn xương lai duệ: Phúc Lạc nguyên nguyên, An Lão tể tể, Kim Bảng, Xuân Lôi, Nhân Thanh, Ô Mễ, Lạc Đạo, Trạch Mi, Nam Đường, Châu Mĩ, Thái Nguyên, Vạn Linh, Phương Lai bách thế thạch tích uyển nhiên, miếu mạo như như kiến, vật sinh ư xuân, lễ bất vong bản, tam nhi thành nhân, nhất dĩ quan vạn, linh sảng hữu tri, viễn nhi bất viễn.

     恭 惟 

先 祖 科 發 鼎 元 才 兼 將 帥 柱 石 綱 常

日 星 道 義 忠 信 立 心 安 寧 貽 子 德 盛

流 光 繁 昌 來 裔: 福 樂 源 源 安 老 濟 濟

金 榜 春 蕾 仁 清 烏 米 樂 道 宅 眉 南 堂

珠 美 太 原 萬 靈 芳 萊 百 世 蹟 宛 然

廟 貌 如 如 見 物 生 於 春 禮 不 忘 本 三 而

成 仁 一 以 貫 萬 靈 爽 有 知 遠 而 不 遠.

 

Kính nhớ:

Tiên tổ xưa.

Khoa đỉnh nguyên.

Tài tướng súy.

Cương thường lăm trụ cột.

Đao nghĩa như trăng sao.

Trung tín lấy làm tâm hồn.

An ninh để cho con cháu.

Công đức Người càng lớn.

Dòng rõi Người càng nhiều.

Chi nhánh tới sông An.

Nguồn gốc từ non Phú.

Rồi Kim Bảng, Xuân Lôi, Nhân Thanh, Ô Mễ.

Đến Lạc Đạo, Trạch Mi, Nam Đường, Châu Mĩ.

Trời Thái Nguyên nước non một giải.

Đất Vạn Linh hương khói muôn đời.

Bia đá còn đây.

Miếu đường còn đó.

Vật sinh về mùa xuân.

Giám đâu quên gốc cũ.

(*)

Chín suối hương hồn dù có biết

Nghìn trùng non nước vẫn không xa.

* Hai câu:

“Tam nhị thành nhân

Nhất dĩ quán vạn”.

Người dịch chưa dịch được.

 


VĂN CÁO TIÊN TỔ TRONG NGÀY TẾ TỔ.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm thứ...

... tháng...ngày...cháu...đời là... vâng lời các bậc già cả trong họ giám mời các cụ Tiên tổ sinh ra Thủy tổ.

Cao tổ khảo đồng tri phủ Khiếu Quí công tự Đình Thái thụy Nhã hiển phủ quân.

Cao tổ tỉ đồng tri phủ Khiếu môn chính thất Nguyễn Thị Hằng nhất hiệu Từ Trang nhụ nhân.

Tằng tổ khảo nho sinh kiêm thập lý hầu Khiếu Quí công tự Đình Quí thụy Phúc ngụy phủ quân.

Tằng tổ tỉ nho sinh kiêm thập lý hầu Khiếu môn chính thất Bùi Thị Hàng nhị hiệu Từ thành nhụ nhân.

Hiển tổ khảo trùm xã tặng thiếu bảo thanh dương hầu Khiếu quí công tự Đình Lê thụy Phúc nghiêm phủ quân.

Hiển tổ tỉ trùm xã tặng thiếu bảo thanh dương hầu Khiếu môn chính thất Bùi Thị Hàng nhất hiệu Từ tướng nhụ nhân.

Hiển khảo bản phủ hiệu hiệu sinh kiêm thập lý hầu tặng thái bảo Khiếu quí công tự Đình Thành thụy Phúc minh phủ quân.

Hiển tỉ bản phủ hiệu hiệu sinh kiêm thập lý hầu tặng thái bảo Khiếu môn chính thất Lê Thị Hàng tam hiêu Từ huệ nhu nhăn.

Kính nhớ!

Các bậc Tiên tổ xưa dầy công vun tưới tình ra bậc đỉnh giáp là nguồn gốc của dòng họ ngày nay.

Nay nhân ngày xuân tế (ngày giỗ thì đổi là “ngày giỗ Thủy tổ), tưởng nhớ nguồn gốc, lẽ nào dám quên, xin đem lễ vật kính giông, mong các Tiên linh chứng giám.


VĂN TẾ THỦY TỔ

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm thứ ...

tháng... ngày... cháu... đời, trưởng họ là... cùng các chi Nhân Thanh, Đồng Thanh, Ô Mễ, Xuân Lôi, An Lão, Trực Mĩ kính mời:

Cụ Thủy tổ: Tư Nhâm Thìn khoa đệ nhất giáp đệ nhất danh trọng nguyên cập đệ thụ đó vệ thư tổng triều chính, chưởng hàn lâm viện kiêm thái giám thống tướng phụ quốc. Khiếu tướng công thụy Phúc quảng nhã dùng tiên sinh.

Kính nhớ Tiên tổ xưa:

Khoa đỉnh nguyên

Tài tướng súy

Cương thường làm trụ cột

Đạo nghĩa như trăng sao

Trung tín lấy làm tâm hồn

An ninh để cho con cháu

Công đức Người càng lắm

Dòng rõi Người càng nhiều

Chi nhanh tới sông An

Nguồn gốc từ non Phú

Rồi Kim Bảng, Xuân Lôi, Nhân Thanh, Ô Mễ

Đến Lạc Đạo, Trạch Mi, Nam Đường, Châu Mĩ

Trời Thái nguyên nước non một giải

Đất Vạn Linh hương khói muôn đời

Bia đá còn đây

Miếu đường còn đó

Vật sinh về mùa xuân

Giam đâu quên gốc cũ

Chín suối hương hồn dù có biết

Muôn trùng non nước vẫn không xa

Giâng chút lễ thành

Mong Người chứng giám.

 

Kính mời các Cụ: 

                            Nguyễn Thị phu nhân.

  Tiên tổ tỉ:          Phạm Thị phu nhân.

                            Bùi Thị phu nhân.

                            Đinh Thị phu nhân .

                                                      Phối hưởng.

 

Kính mời các cụ biệt, tổ thủy thiên tổ:

Phúc Lạc đại tôn Khiếu quí công tự Đình Vệ thụy Phúc lãng phủ quân.

Nam Đường chi biệt tổ Khiếu quí công tự Đình Mai phủ quân.

Nhân Thanh chi biệt tổ Khiếu quí công tự Đình Tài, thụy Pháp dụng phủ quân.

Minh Tào chi biệt tổ, ấm thụ triều xuyên hầu, kiêm tổng binh thống lĩnh Khiếu quí công tự Đình Thiếp, thụy Phúc huyền phủ quân.

Kim Thanh chi biệt tổ Khiếu quí công tự Đình Sức, thụy Phúc vực phủ quân.

Ô Mễ chi biệt tổ Khiếu quí công tự Đình Hiếu, thụy Nho nhã tiên sinh.

Xuân Lôi chi biệt tổ Khiếu công quí công tự Đình Giảng, hiệu Minh huyền, thụy Trí đức phủ quân.

An Lão chi biệt tổ Khiếu quí công tự Đình Thanh, thụy Vô sự phủ quân.

Lạc Đạo chi biệt tổ Khiếu quí công tự Đình Đông phủ quân.

Châu mỉ chi thủy thơn tổ Khiếu quí công tự Quảng minh phu quân 

Tòng tự.

 

Kính mời tổ khảo các chi:

Khiếu công thứ long tự Văn ý phủ quân.

Lê triều thân sách vệ tri ba Khiếu quí công tự Phúc thịnh phủ quân.

Khiếu công tự Đắc Thọ, thụy Chất trực phủ quân.

Lê triều Thiệu thiên Đoan hùng phủ tri

Phủ Khiếu quí công tự Duy Ninh thụy Đạt uyên tiên sinh.

Lê triều sinh đồ tặng thiếu bảo Khiếu quí công tự Khắc Hưởng thụy Hi hiên tiên sinh.

Lê triều nho sinh Khiếu quí công thụy Phúc nhuận ngân thanh tiên sinh.

Lê triều quốc tử giám giám sinh. Phú lương huyện Tri - huyện Khiếu quí công thụy Đôn túc, hiệu Kim khê tiên sinh.

Cố Lê tiết nghĩa chánh để lãnh tứ thành quân vụ, tham dự triều chính, tham đốc cận quang hầu Khiếu quí công tự Như.

Tóng, thụy Trung còn nghĩa liệt, bản triều khâm tứ thụy Trung mẫn tiên sinh.

Kỳ lão Khiếu tông tự Đình Phác phủ quân.

Thập ký hầu Khiếu công tự Đình Thanh hiệu Phúc điền phủ quân.

Khiếu công tự Duy cường, hiệu Ôn lương tiên sinh.

Kỳ lão Khiếu công tự Công Liêm, thụy Chất trực phủ quân.

Trùm trưởng Khiếu công tự Xuân Thiêm, hiệu Phúc trực phủ quân.

Thập lý hầu Khiếu công tự Hữu Trù, hiệu Trung còn phủ quân.

Quan viên tử Khiếu cư sỉ hiệu Tĩnh phác tiên sinh.

Quan viên tử Khiếu công hiệu Phúc ngợi phủ quân.

Quan viên tử Khiếu tưởng long hiệu Trực lượng phủ quân.

Quan viên tử Khiếu trọng long tự Lương Mĩ, hiệu Chất hậu phủ quân.

Quan viên tử Khiếu ngũ long, tự Trọng Dương, hiệu Cương trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Duy Trung, hiệu Châu tính phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Hợp, thụy Cương trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Phúc Mộ hiệu Đoan khê tiên sinh.

Khiếu công tự Thuần hậu phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Lãng hiệu Mẫn trực phủ quân.

Khiếu công tự Đình Ân, hiệu Phúc lượng phủ quân.

Cố Lê chi thụ thị tả Khiếu công tự Như Liêm, thụy Uyên vi tiên sinh.

Kì lão Khiếu tứ long tự Lương Tài phủ quân.

Dật dân Khiếu tưởng lang tự Vi Chương hiệu Minh thục tiên sinh.

Kinh khoa tú tài Khiếu lệnh phủ tự Đẩu Nam tiên sinh.

Kinh khoa tú tài Khiếu công tự Nghiễm Thành, hiệu Bảo trai tiên sinh.

Kỳ lão Khiếu công húy Đức Thăng, hiệu Đạt dạo tiên sinh.

Hương lão Khiếu công tự Kim Chung thụy Tấn trực phủ quân.

Trùm trưởng Khiếu nhị long tự Thông Quang phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Rã, thụy Đoan trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Phú Ân, hiệu Đôn trực phủ quân.

Thập lý hầu Khiếu công tự Kim Khang, thụy Cương thường phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Quang Hào, hiệu Minh mẫn phủ quân.

Viên tử Khiếu công tự Hữu Nghiêm, hiệu Thuần phúc phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Liên, thụy Phúc hậu phủ quân.

Kỳ Lão Khiếu công tự Quang Cảnh, thụy chính Trực phủ quân.

Khiếu công tự Đình Đắc, thụy Thuần hòa phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Khôi, thụy Trung trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Đích, hiệu Cần mẫn phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Duy An, hiệu Cương trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Hoành, thụy Cần trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Kim Đăng, thụy Nho nhã tiên sinh.

Hương lão Khiếu trọng thi tự Đình Văn, thụy Trang trực phủ quân.

Khóa sinh Khiếu long húy Nhuệ, tự Quang Khanh phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Tám, thụy Chính trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Quang Dụ, thụy Chất thành phủ quân.

Phó tổng Khiếu công tự Kim Đỉnh, thụy Thông mẫn phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Việt, thụy Chính trực phủ quân.

Khiếu nhị long tự Hữu Lộc phủ quân.

Hương trưởng Khiếu công tự Đình Mậu, thụy Phúc quang phủ quân.

Hữu tiệp cơ oai đội Khiếu công tự Đình Sửu, thụy Cương trực phủ quân.

Hương trưởng Khiếu công tự Đình Thọ, thụy Bình cách phủ quân.

Xả nhiêu Khiếu lệnh đương thụy Ôn trực phủ quân.

Khiếu lệnh công tự Khắc Cần, thụy Cương trực phủ quân.

Xã nhiêu Khiếu công tự Đình Tam, thụy Cương trực phủ quân.

Xã nhiêu Khiếu công tự Đình Tóng, thụy Chất trực phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Nghinh Tiện, thụy Chính trực phủ quân.

Hương thôn Khiếu công tự Đình Thụy, thụy Mẫn trực phủ quân.

Thập lý hầu Khiếu công tự Hữu Đạo, thụy Chất trực phủ quân.

Canh ngọ khoa tú tài Khiếu lệnh phủ tự Trực hiên tiên sinh.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Tiêm phủ quân.

Kỳ lão Khiếu công tự Đình Quang Đăng, thụy Bình từ phủ quân.

Xã nhiêu Khiếu công tự Đình Kiên, thụy thụy Chất trực phủ quân.

Thập lý hầu Khiếu công tự Duy Việt, thụy Ôn tương phủ quân.

Hương trưởng Khiếu công tự Đình Cẩm, thụy Trực ngợi phủ quân.

Kinh khoa nhất trường Khiếu công tự Đình Ngoan, thụy Nho tiên sinh.

Kỳ lão tiên hương trung trùm trưởng, kiêm binh đinh Khiếu công tự Đinh Húc phủ quân.

Kỳ lão Khiếu long tự Đình Liễn, thụy Tán thành phủ quân. 

Phụ tự.

      Các bậc tôn thân nay cùng yên hưởng.

Ngày giỗ 12 tháng 6 từ câu: vật sinh về mùa xuân... thay như sau:

Nay nhân ngày giỗ.

Gọi chút lễ thành.

Kính giâng hoa quả cỗ bàn.

Mong đấng Tiên linh chứng giám.

*      *

*

Ngày 12 tháng 6 năm Thiệu Trị thứ 4 (tức năm 1844), các chi Họ Khiếu ghi rằng Nhà thờ Tổ mới dựng xong, từ nay các tuần tiết nên họp họ tế lễ để tỏ lòng nhớ nguồn gốc. Từ nay, các chi ai tình nguyện rước tổ phụ phối hương sẽ cúng một sào ruộng trị giá 10 quan, hàng năm nộp lãi 2 quan, lấy tiền sửa lễ, khi có ai bán ruộng họ sẽ thu tiền gốc tậu ruộng, giao cho trưởng tộc cày cấy, lấy hoa lợi sửa lễ, nay biên.

Tiền tế phụ các nơi nộp như sau:

Cụ Khiếu Hữu Bộc chi Kim Thanh cúng 1 sào giá 10 quan, xin rước cha là cụ Ngân Thanh phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Trắc chi Kim Thanh cúng 2 sào giá 20 quan, xin rước ông là cụ Kim Khê, cha là cụ Tĩnh Phác phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Đức, chi Kim Thanh cúng 1 sào lên ruông họ ở thôn Thắng Cựu xin rước cha là cụ Phúc Ngợi phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Tín, chi Kim Thanh cúng 1 sào kế ruộng họ ở thôn Thắng Cựu xin rước cha là cụ Lương mĩ phụ tự.

Cụ Khiếu Đức Thắng, chi Xuân Lôi cúng tiền 20 quan thế dẫn một sao thổ ở xứ Ngõ Đá, thôn Phúc Lạc làm nơi dựng nhà thơ, xin rước ông là cụ Đắc Thanh, cha là cụ Thuần Hậu phụ tử.

Cụ Khiếu Đình Thọ, chi Xuân Lôi cúng 10 quan, xin rước cha là cụ Đình Lãng phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Nghiêm, chi An Lão cúng 10 quan, xin rước bác là cụ Như Tòng phụ tự.

Cụ Khiếu Đình Khôi, chi Phúc Lạc cúng 10 quan, xin rước ông là cụ Xuân Thiêm phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Liên, chi Ô Mễ cúng 10 quan, xin rước cha là cụ Đoan Khê phụ tử.

Ngày 12 tháng 2 năm Canh Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 23 cả họ thiết nghĩ: Nhà thờ chặt hẹp, khi tế lễ chưa được thoải mái, nên cùng bàn bạc dựng ngôi bái đường. Các chi chiểu bổ nhân suất, lấy tiền tế phụ và trong họ ai có hằng tâm hằng sản cũng như giai tế họ tiến cúng được hơn 130 quan. Công việc sửa sang đến tháng 6 thì xong. Vậy chưa rõ để về sau biết. Sau này có ai nối chí tiền nhân mà làm to thêm, đó là điều rất mong muốn.

Tiền tế phu các nơi nộp như sau:

Cụ Khiếu Đặng Viện, chi Nhân Thanh cúng 10 quan, xin rước cha là cụ Đình Hợp phụ tự.

Cụ Khiếu Đặng Đỉnh, chi Nhân Thanh cúng 10 quan, xin rước cha là cụ Kim Chung phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Ái, chi Đồng Thanh (trước là Kim Bảng) cúng 10 quan xin rước cha là cụ Vi Chương phụ tự.

Cụ Khiếu Hữu Đĩnh, chi Đồng Thanh cúng 10 quan, xin rước cha là cụ Nghiễm Thành phụ tự.

Ngày 12 tháng 6 năm Tự Đức thứ 29, cụ Khiếu Quang Khanh, chi An Lão cúng 20 quan, xin rước cụ là cụ Khắc Hưởng ông là cụ Như Liêm phụ tự.

Mùa đông tháng 10 năm Ất Mão niên hiệu Tự Đức thứ 8 cụ Khiếu Đình Thọ, chi Xuân Lôi nhân lên Tuyên Quang đi qua Trạch Mi, Quảng Oai, sực nhớ ra có họ nhà ở đó liền tìm đến nơi. Người ở đó nói: Họ Khiếu hiện nay rất đông, lại có một chi sang ở xã Lương Khê, huyện Bất Bạt, nhưng gia phả bị ướt nhà thay mất. Nay ông quả là người họ, nhớ về sao hệ gia phả để làm bằng chứng nhận nhau.

Cụ Đình Thọ về sao gia phả mang tên tất cả già trẻ trong họ mừng rỡ, bố nhau năm chi mỗi chi một quan tiễn nhân cụ Thọ và nhớ chuyển lời về. Nếu có ai nhận đi qua xin mời vào để được cùng theo về yết tổ nhận họ. Nhân đó ghi rõ.

Ngày 10 tháng 2 năm Giáp Tí, niên hiệu Tự Đức thứ 17 (tức năm 1865), cụ Khiếu Văn Lệnh, Khiếu Văn Thiêm, Khiếu Văn Nghiêm, Khiếu Văn Vấn ở xã Trạch Mi về lễ Tổ. Cả họ mừng rỡ lấy làm nghìn năm mới có một lần. Hay chăng tiên tổ ta linh thiêng xui khiến ra như vậy. Nhân ghi rõ thêm.

Cụ Khiếu Hưu Trương chi Đồng Thanh kính viết.

Bài tựa gia phả chi Đồng Thanh.


 

GIA PHẢ HỌ KHIẾU

Cây bao nhiêu cành, bao nhiêu lá phải có gốc, sông bao nhiêu nhánh, bao nhiêu dòng cũng từ nguồn, vật còn như vậy, huống chi là người. Họ ta thịnh vượng cũng nhớ Tiên tổ ta tích đức.

Kính nhờ Tiên tổ ta là Trạng nguyên Khiếu tướng công vì nhà Mạc rối loạn, người không thờ hai vua, nên gửi con đi các nơi rồi lánh nạn lên Thái Nguyên. Trước kia không có dấu tích gì xét nhận được. Đến ngày 20 tháng 3 năm Tân Mão, đời Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771), có người làng Phúc Lạc lên Thái Nguyên gặp người họ ta gửi gia phả về, đầy đủ mộ tổ ở xứ nào, các chi ở làng nào. Ngày năm ấy, các chi hợp lại, xem xét gia phả rõ ràng muôn một không nghi ngờ gì. Từ đó hàng năm lấy ngày 12 tháng 2 làm ngày xuân tế để hết lòng nhớ nguồn, nhớ gốc.

Nay theo cách thức soạn bù để rõ thế hệ từ đâu.

Mùa xuân tháng Giêng năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21, kính cẩn viết lại theo bản phả cũ.

Cụ Khiếu Văn Uyên trưởng chi Chăn Mĩ cùng các cụ Khiếu Đắc Tuệ, Khiếu Văn Lương, Khiếu Văn Cầu và các cháu nhỏ nhớ tới công đức Tổ tiên không nguôi kính mến, nhân cử người họ là cụ tú tài Khiếu Năng Tĩnh cùng các Cụ Khiếu Văn Huỳnh, Khiếu Văn Điền, Khiếu Văn Chương, Khiếu Văn Chúc cùng ra nhà cụ Khiếu Hữu Anh (con cả cụ Khiếu Hữu Kiệt, cụ Anh đỗ tú tài thứ sáu khoa bính tí) ở xã Đồng Thanh, tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, sửa lễ kính yết nhà thờ ở Phúc Lạc (nay là Phú Lạc).

Các chi mừng cụ Anh mới đỗ. Lễ mừng ba quan tiền và đôi câu đối:

Tam bách niên đỉnh giáp lưu phương, Phúc sơn bồi cố

Từ ngũ đại gia phong tế mĩ, Châu thủy trừng thanh.

三百年前甲留芳,福山培固

自五代家風細美,珠水澄清

Ba trăm năm Cụ Trạng thơm danh, dát Phúc sơn bền vững.

Bốn năm đời nếp nhà rạng rỡ, dòng Châu thủy trong xanh.

Bài tựa gia phả chi Chân Mĩ.

*      *

*

GIA PHẢ HỌ KHIẾU TỤC BIÊN

Nhà có phả cũng như nước có sử, đời đời tiếp tục ghi chép, nhân cũ mà làm ra mới, cốt sao không mất gốc để đời, sau từ dòng chánh mà tìm ra nguồn gốc, sẽ được dòng rõi từ đâu.

Gia phả họ ta từ đời vua Quang Trung năm thứ tư, cụ tổ đời thứ sáu là Hữu Tạo tiếp tục ghi chép, chắc rằng nhân cũ mà làm ra, rõ ràng có bằng cứ, sau đời đời noi theo ghi chép rành mạch. Đến cụ Đắc Nghi cùng các cụ Đắc Ngan, Hữu Đức, Đắc Thiêm tìm đến nguyên quan Tiên tổ yết nhà thờ nhận họ (lúc ấy nhân cụ Hữu Tráo chi Đồng Thanh hướng dẫn, vì chưa kịp sao gia phả nên ân cần dặn lại tháng giêng năm nay, nhớ lời di chúc vấn tổ tầm tâng (lần này, nhần cụ Vũ Đình Phiên xã Nhân Trạch, học trò cụ Hữu Kiệt đi mừng con thầy là cụ Hữu Anh mới đỗ cùng đi dẫn đường) mới sao được gia phả. Đem so sánh với phả cũ của cụ Hữu Tạo để lại thì duệ hiệu Tiên tổ có sai một đôi chữ thôi. Mới biết rằng Tiên tổ ta đức dầy ngời sáng, muôn đời không sai mà cụ Hữu Tạo ghi chép cũng không mất sự thật, đời sau ai còn không nối chí trước noi việc trước được. Vật kính cẩn đem bản gia phả mới sao ở nhà thờ đại tôn Phúc Lạc viết rõ ràng như sau. Nguyên phả cũ từ năm Quang Trung thứ tư của cụ Hữu Tạo ghi chép sao đủ ở trên và kính chép sự tích thế hệ gần đây cũng như húy kỵ phần mộ và điều lệ mới nhất nhất rõ ràng, gọi là “Gia phả họ Khiếu tục biên”

Ngày 23 tháng 1 năm Đinh Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 30 (1877).

*      *

*

Duệ hiệu Tiên tổ.

Theo gia phả mới sao.

Tiên tổ tứ Nhâm Thìn khoa đệ nhất giáp đệ nhất danh trạng nguyên cập đệ, thụ đô vệ, thự tống triều chính, Chướng Hàn Lâm Viện, kiêm thái giám, Thống Tướng Phụ Quốc Khiếu tướng công, thụy Phúc quảng nhã dụng tiên sinh.

                                                      (Nguyên húy Khiếu Đình Tuân)

先 祖 賜 壬 辰 科 第 一 甲 第 一 名 狀

元 及 第 授 都 衛 署 宋 朝 政 掌 翰 林 院

兼 太 監 統 將 輔 國 呌 將 公 諡 福 廣 雅 用 先 生.

                         (原 諱 呌 庭 遵)

 

Duệ hiệu Tiên tổ

Theo phả cũ

Tiên tổ bản tại Sơn Nam, đạo Kiến Xương, phủ Vũ Tiên, huyện Phương Lai, xã Phúc Lạc, Khiếu Đình Tuân, Mạc triều Nhâm Thìn khoa Trạng nguyên cập đệ Chưởng Hàn Lâm Viện, Phụ Quốc Thượng Tướng quân, tổng triều chính Khiếu tướng công, thụy Phúc quảng nhã dụng tiên sinh.

先 祖 本 在 山 南 道 建 昌 府 武 仙 縣

芳 萊 社 福 樂 村 曉 廷 旬 莫 朝 壬 辰 科

狀 元 及 第 掌 翰 林 院 輔 國 上

將 軍 總 朝 政 呌 相 公 諡 福 廣 雅 用 先 生.

*    *

*

Bản viết lần thứ hai này có sửa chữa thêm. Phần cuối chỉ viết hai bài tựa gia phả chi Đồng Thanh và chi Trực Mĩ để dễ tham khảo. Còn phần thế thứ của hai chi thì không viết ở bản này.

Viết lại, ngày 03 tháng 11 năm Bính Ngọ,

niên hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thứ 21 (1966).

                            Huy kính viết


 

TRÍCH LỤC GIA PHẢ HỌ KHIẾU

Danh gia sự nghiệp cụ Đình Tuân.

Xem trong gia phả họ ta

Dịch theo hán tự viết ra văn vần

Thủy tổ họ Khiếu danh nhân

Kể từ cụ Khiếu Đình Tuân ghi truyền

Nhâm Thìn cụ đỗ Trạng nguyên

Được phong Thống tướng binh quyền khâm sai

Một nghìn năm trăm chín hai

Thế kỷ mười sáu không sai chút nào

Tài người học rộng trí cao

Năm bốn tám tuổi ghi vào sử xanh

Cụ Tuân con cụ Đình Thành

Vốn nhà nho giáo học hành thông minh

Ở huyện Vũ Tiên, Thái Bình

Phương Lai, Phú Lạc gia đình nơi sinh

Thật là dòng dõi quang vinh

Bốn đời dạy học nho sinh hiền hòa

Từ cụ Đình Thái sinh ra

Đình Quý, Đình Lệ, nho gia Đình Thành

Trước là họ Phạm chính danh

Đến cụ Đình Thành, sinh Khiếu Đình Tuân

Cụ Tuân gồm bốn phu nhân

Chín trai, năm gái nội phần tương lai

Cụ cả sinh bốn con trai

Đình Vệ, Đình Thiếp, Đình Mai, Đình Tài

Thị Táo con cụ thứ hai

Thị Khê cũng gái không trai nữa mà.

Cụ ba phúc hậu hiền hòa

Hai trai, một gái tên là thị Thiêm

Đình Thức, Đình Hiếu thảo hiền

Cụ bà thứ bốn tình duyên càng nông

Đình Giảng, Đình Thanh, Đình Đông

Ba trai, hai gái thị Hằng, thị Phong

Toàn gia nho học tinh thông

Mọi người trên dưới một lòng nghiêm minh

Trước khi nhận việc triều đình

Đem con gửi bạn than tình khắp nơi

Đình Vệ con cả của người

Để tại Phú Lạc gửi thời cụ Nho

Thị Thiêm con gái gả cho

Cụ Bùi Tất Toán hẹn hò tương lai

Đình Mai là con thứ hai

Gửi Hà Tôn Phú tỉnh ngoài Nghệ An

Đình Tài thứ ba rõ rang

Gửi Phan Trọng Dụng tại làng Nhân Thanh

Thị Phong gái út hiền lành

Phan Thân làng ấy kết thành đẹp duyên

Đình Thiếp thứ bốn thảo hiền

Theo cha lên tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng

Cùng theo có cả Thị Hằng

Bảy đời làm tướng làm tướng rõ rang không sai

Đời sau ở phủ Quảng Oai

Thành chi Trạch Mỹ ở ngoài Sơn Tây

Đình Thức thứ năm cho hay

Gửi Đào Trọng Giá xã này Kim Thanh

Thị Tào đẹp gái tinh nhanh

Đào Giang xã ấy kết thành lứa đôi

Đình Hiếu con thứ sáu người

Gửi Cụ Nguyễn Dũng xã thời Tân Phong

Đình Giảng thứ bảy vui lòng

Gửi Cụ Nguyễn Tướng thuộc lòng Lôi Xuân

Đình Thành thứ tám vâng lời

Gửi về An Lão, cùng thời Thị Khê

Cụ Lễ An Lão nhận về

Trao duyên Nguyễn Điện – Thị Khê vợ chồng

Còn con thứ chín Đình Đông

Về xã Lạc Đạo gửi ông Đoàn Tuần

Đời sau gặp bước gian truân

Chi này chuyển hết sang dần tỉnh Nam

Chi Chân Mỹ, huyện Đại An

Nhiều người đỗ đạt làm quan trong triều

Gia phả chi tiết ghi nhiều

Nay tôi viết gọn mấy điều quy lai

Chi một Phú Lạc không sai

Thuận An, Nghệ Tĩnh chi hai đó mà

Nhân Thanh thuộc chi thứ ba

Chi bốn chính thức đó là Thái Nguyên

Chi năm Kim Bảng ghi truyền

Chi sáu Ô Mễ cùng miền đó thôi

Chi bảy là chi Xuân Lôi

Chi tám An Lão đời đời không quên

Chi chín Lạc Đạo nhãn tiền

Chín chi cùng một tổ tiên sinh thành

Đời đời con cháu vang danh

Nhớ về nguồn gốc kính thành tổ tiên

Ngàn năm ghi nhớ không quên

Những ngày ghi nhớ không quên

Những ngày kỷ niệm Tổ tiên lâu dài

Nhớ ngày mười hai tháng hai

Là ngày kỷ niệm gọi ngày giỗ khao

Ngày đi nhận lệnh Triều trao

Điều quân khiển tướng binh đao trận tiền

Vua trao thống lĩnh binh quyền

Cấm quân đánh giặc tại miền Trung du

Cao Bằng, Bắc Cạn hai khu

Giao tranh chiến đấu quân thù nhà Lê

Đối phương sức mạnh nhiều bề

Chúc Mạc Kính Điển rút về kinh vua

Quân ta yếu thế chịu thua

Cụ Tuân rút gọn về chùa Vạn Linh

Nghĩ về danh dự của mình

Không đầu hàng giặc, hy sinh tại chùa

Đi xuân, về hạ hai mùa

Mười hai tháng sáu trọn vừa quy tiên

Thế là thoát nợ trần duyên

Tạc danh bia đá trạng nguyên thanh bình

Viết thơ tấu lại triều đình

Bài thơ để lại chân tình như sau:

“Lòng son cặn kẽ tấu đan đính

Bởi chúa mình không dụng chước mình

Sống những, sống thừa thôi cũng Đặng

Chết hay, chết nghĩa ấy là Vinh

Buộc lòng chịu phải về Cao Phúc

Chữ gọi linh thần ứng Vạn Linh

Châu gọi mình táo minh được tá

Bình lan chốn ấy rất Lan bình”.

                                                        Ngày 12 – 2, Xuân Ất Dậu, năm 2005

                                                          Chi 7, Xuân Lôi, Khiếu Đức Lập, 80 tuổi.

 

GIA HUẤN CỦA CỤ KHIẾU ĐÌNH TUÂN

Để cho dễ nhớ thông tâm.

Tôi xin biên soạn theo vần dân ca.

*1. Các con cùng mẹ, cùng cha

Cùng một dòng họ, sinh ra ban đầu.

Hàng ngày đối xử với nhau.

Phải lấy đạo đức làm đầu chớ quên.

Luân thường đạo lý phải nên.

Kính già, yêu trẻ dưới trên thuận hòa.

Con phải hiếu với mẹ cha.

Cháu phải kính trọng ông bà tổ tiên.

*2. Còn như đối với anh em

Giữ tình ruột thịt vững bền trước sau

Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau

Chia vui, sẻ ngọt, chia sầu, sẽ cay

Anh em như chân với tay

Như da bọc thịt, như cây nhiều cành

*3. Đối với bè bạn thân tình

Giữ tròn lời hứa, của mình phát ra

Tin yêu, khiêm tốn, thật thà

Bạn vô đạo đức, thì ta xa liền

Chơi bời giao thiệp đừng quên

Kết tình bè bạn phải nên chọn người

Những người nghiện hút tàn đời

Bê tha cờ bạc ta thời tránh xa

Kìa người ăn nói ba hoa

Lừa thầy, phản bạn thì ta xa rời

*4. Vợ chồng tiết nghĩa ở đời

Giữ tròn đạo lý đúng người thân thương

Trẻ thì quyến luyến yêu đương

Khi già tình cảm, tình thương bạc đầu

Phải cùng tôn trọng lẫn nhau

Thủy chung, yêu quý trước sau trọn đời

*5. Đối với nhà nước theo thời

Khi bình, lúc loạn là người xứng danh

Là người nhân đức trong lành

Giữ tròn bổn phận trung thành cho hay

Mọi việc đối xử hàng ngày

Gồm tám chữ này, liên kết với nhau

Trung, hiếu, liêm, tiết, đứng đầu

Tín, lễ, trí, nghĩa, tám câu đó là

Trung với nước nhà, Hiếu với mẹ cha

Liêm trong xã hội phải là thật nghiêm

Không ăn hối lộ, không vì tiền

Tiết nghĩa vợ chồng phải tiết kiệm

Tín cùng bè bạn, tin cho đúng

Lễ đối hàng ngày xử sự chung

Trí trong mọi việc mưu sử dụng

Nghĩa trọng, tình sâu giữ thủy chung

*6. Ta cấm các con làm điều tiện

Phạm vào danh dự của tổ tiên

Giữ nguyên dòng họ chớ quên

Có sao hưởng vậy chớ nên mơ màng

Đừng thấy những người giàu sang

Mà đổi dòng họ nhận quàng bê tha

Đã là con, cháu của ta

Nghe lời ta dặn mới là xứng danh.

                                                        Ngày 12 – 2, Xuân Ất Dậu, năm 2005.

                                                           Chi 7, Xuân Lôi, Khiếu Đức Lập 80 tuổi./.

 

-----------------------

Đăng ký